CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC 1. KHÁI NIỆM, TẦM QUAN TRỌNG VÀ VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm chung về nguồn nhân lực “ Nguồn nhân lực” (nguồn lực con người) phải chăng là sức mạnh của con người trong chính sự tồn tại và phát triển của nó đối với thiên nhiên, đối với xã hội và đối với cả chính bản thân của mỗi con người cụ thể. Khi nói về nguồn lực cơ bản của sự phát triển, người ta thường nói tới hai nguồn lực là nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người.
Nguồn lực tự nhiên là khái niệm chỉ nguồn tài nguyên thiên nhiên như: Đất đai, nước, khoáng sản và các điều kiện tự nhiên. Nguồn lực tự nhiên được xem như món quà của thiên nhiên ban tặng và thường nó có hàm lượng tương đối ổn định. Trong khi đó nguồn lực con người (nguồn nhân lực) lại mang tính vô hạn. Nguồn lực con người không mất đi cũng không bị cạn kiệt trong quá trình khai thác (sử dụng) trái lại, nguồn nhân lực ngày càng tăng lên cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội.
Đây là ưu thế hơn hẳn của nguồn nhân lực so với nguồn lực tự nhiên. Trước đây, người ta đánh giá rất cao vai trò của các nguồn lực tự nhiên rồi kỹ thuật công nghệ, thì ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, người ta quan tâm đến vai trò của con người, của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực đã trở thành nguồn lực cơ bản nhất, quan trọng nhất để phát triển. Theo giáo trình “Quản trị nguồn nhân lực” của Học viện Hành chính Quốc gia “Nguồn nhân lực” “là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một phạm vi một địa phương, một ngành hay một vùng, m ột doanh nghiệp (một tổ chức)…” (Nguồn: TS.
Nguồn lực con người là nguồn lực quan trọng nhất của mọi quốc gia để phát triển kinh tế - xã hội trong thời đại hiện nay, cũng như các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp) trong quá trình họat động sản xuất - kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao mang tính lâu d ài - bền vững. Mặc dù còn có sự khác nhau trong quan PHẠM TUẤN ANH 4 CAO HỌC QTKD 2010B CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC niệm về nguồn nhân lực giữa các quốc gia, nhưng nhìn chung, nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chất lượng dân cư tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội (lao động tham gia vào tổ chức cơ cấu nhân lực của doanh nghiệp). Số lượng của nguồn nhân lực được xác định bởi các chỉ tiêu về qui mô và tốc độ tăng của nguồn nhân lực. Chất lượng của nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng phát triển thể lực, trình độ kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu nguồn nhân lực về tuổi tác, giới tính, thiên hướng ngành nghề, phân bố theo khu vực lãnh thổ, khu vực thành thị - nông thôn… Trong nguồn nhân lực, chất lượng đóng vai trò quyết định, nhất là trong giai đọan hiện nay, khi mà Khoa học - công nghệ và kỹ thuật phát triển mạnh mẽ thì nguồn nhân lực có chất lượng cao có vai trò quyết định cho sự phát triển nhanh và bền vững.
Do vậy, phát triển nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng và là động lực thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Nguồn nhân lực đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế thị trường chuyển sang nền kinh tế tri thức thì nguồn lực con người trở thành động lực chủ yếu cho sự phát triển. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực, tại Đại hội lần thứ VII, Đảng ta đã nhấn mạnh: Đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xu hướng phát triển chung của nhiều nước trên thế giới. Đó cũng là con đường tất yếu của nước ta để đi tới mục tiêu “Dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Công nghiệp hóa - hiện đại hóa đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và trở thành động lực thực sự của sự phát triển. Phát triển nguồn nhân lực cả số lượng và chất lượng là một nhiệm vụ tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
“Phát triển nguồn nhân lực” là khái niệm được hiểu ở góc độ hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và điều chỉnh hợp lý số lượng nguồn nhân lực. Để có thể phát triển được nguồn nhân lực, xét từ góc độ nền kinh tế, phải có các cơ chế, chính sách tác động PHẠM TUẤN ANH 5 CAO HỌC QTKD 2010B CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC vào nguồn nhân lực. Như vậy có thể hiểu khái niệm phát triển nguồn nhân lực xã hội như sau: “Phát triển nguồn nhân lực xã hội là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý - xã hội) và điều chỉnh hợp lý về số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi về số lượng nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đọan phát triển”. Tầm quan trọng và vai trò của nguồn nhân lực.
* Vai trò của nguồn nhân lực đối với tăng trưởng kinh tế (kinh nghiệm các nước phát triển, đi trước). Như chúng ta biết, trong những năm 1950 và 1960 tăng trưởng kinh tế chủ yếu là do công nghiệp hóa; thiếu vốn và nghèo nàn về cơ sở vật chất là khâu chủ yếu ngăn cản tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có một phần nhỏ của sự tăng trưởng kinh tế có thể được giải thích bởi khía cạnh đầu vào là nguồn vốn. Phần rất quan trọng của sản phẩm thặng dư gắn liền với chất lượng lực lượng lao động (trình độ giáo dục, sức khỏe và mức sống).
Đầu tư cho con người, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân tạo ra khả năng nâng cao chất lượng cuộc sống cho cả xã hội, từ đó nâng cao năng suất lao động. Garry Becker, người Mỹ được giải thưởng Nobel kinh tế năm 1992, khẳng định “không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục”. Lịch sử các nền kinh tế trên thế giới cho thấy không có một nước giàu có nào đạt được tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao trước khi đạt được mức phổ cập giáo dục phổ thông. Cách thức để thúc đẩy sản xuất, đến lượt nó thúc đẩy cạnh tranh, là phải tăng hiệu quả giáo dục.
Các nước và các lãnh thổ công nghiệp hóa mới thành công nhất như Hàn Quốc, Xingapo, Hồng Kông và một số nước khác có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất trong những thập kỷ 1970 và 1980 thường đạt mức độ phổ cập tiểu học trước khi các nền kinh tế đó cất cánh. Mặc dù vậy, các nghiên cứu cũng cho thấy thành công của Nhật Bản và Hàn Quốc trong kinh tế không chỉ do phần đông dân cư có học vấn cao mà còn do các chính sách kinh tế , trình độ quản lý hiện đại của họ. Do đó, giáo dục phải được PHẠM TUẤN ANH 6 CAO HỌC QTKD 2010B CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN APEC đề cao hơn nữa (đặc biệt là giáo dục đại học) được xem như là một điều kiện cần với phát triển kinh tế. Kết quả giáo dục cùng với sự cạnh tranh trong giáo dục đại học sẽ thúc đẩy các ngành công nghiệp và kinh doanh của các nước đang pháp triển thu hút những nhà khoa học sáng nhất của họ và của nước ngoài.
Khi cân bằng về sức mạnh khoa học kỹ thuật trên từng khu vực được thiết lập, những mơ ước và ý đồ đổi mới kỹ thuật công nghệ của các nước đang phát triển sẽ được thực hiện ngay trên đất nước của mình. Thực tế cho thấy, gần đây nhiều sản phẩm của các nước châu Á sản xuất ra không cần phải theo giấy phép và mang nhãn của công ty nước ngoài, hàng hóa do châu Á sản xuất đ ã tràn khắp các thị trường thế giới. Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học và công nghệ lại phụ thuộc vào điều kiện giáo dục. Đã có rất nhiều bài học thất bại khi một nước sử dụng công nghệ ngoại nhập tiên tiến khi tiềm lực khoa học công nghệ và quản lý yếu, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề và do đó không thể ứng dụng được các công nghệ mới.
Không có sự lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo các nguồn nhân lực quý giá cho đất nước để phát triển hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước khác. Như vậy, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại không chỉ nhằm biến đổi cơ sở kỹ thuật của nền sản xuất như trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng đó mang nội dung mới trên cơ sở các quan hệ sản xuất, khoa học và công nghệ. Những phát minh khoa học ở thời kỳ này ngay lập tức được ứng dụng vào sản xuất và làm xuất hiện một hệ thống sản xuất linh hoạt đủ khả năng thay đổi nhanh chóng quy trình sản xuất.
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ tạo ra hàm lượng thông tin và tri thức trong tổng chi phí sản xuất cao. Yếu tố mới xuất hiện và trở thành yếu tố cốt lõi của cả hệ thống sản xuất hiện đại chính là thông tin và tri thức. Các số liệu thống kê năm 1990 phản ánh phần đóng góp của thông tin, tri thức trong thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ là 47,4%, Anh 45,8%, Pháp 45,1%, Đức 40,4%. Trí tuệ trở thành động lực cho toàn bộ tương lai của nhân loại, thúc đẩy sự tiến bộ vừa sâu vừa rộng của xã hội trên nền tảng khoa học và công nghệ để tạo ra bước tăng trưởng kinh tế mới, hiếm thấy so với trước đây.