phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 4 chương. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong bệnh viện công Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CỦA BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Bệnh viện công lập 1. Bệnh viện công lập 1. Khái niệm, đặc điểm của Bệnh viện công lập * Khái niệm Có nhiều quan điểm về Bệnh viện công lập, theo quan điểm hiện đại, Bệnh viện công lập là một tổ chức y tế của Nhà nước với các đặc trưng sau: - Là một hệ thống lớn bao gồm rất nhiều yếu tố và nhiều khâu liên quan chặt chẽ với nhau từ khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc.
- Là một tổ chức y tế có chức năng hoạt động chính là khám chữa bệnh, bao gồm các yếu tố đầu vào là người bệnh, cán bộ y tế, nguồn tài chính, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán và điều trị. Đầu ra là người bệnh khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe; hoặc người bệnh tử vong. - Ngoài chức năng chủ yếu là khám chữa bệnh cho nhân dân, Bệnh viện công còn có chức năng đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế. - Nguồn tài chính để Bệnh viện hoạt động chủ yếu từ ngân sách nhà nước.
- Mục tiêu chủ yếu của Bệnh viện công mang tính chất phúc lợi, phi lợi nhuận, nhằm bảo đảm sức khỏe cho nhân dân. Tổng hợp lại, có thể đưa ra khái niệm như sau: Bệnh viện công lập là tổ chức do Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn khám chữa bệnh [6]. * Đặc điểm của Bệnh viện công lập Là đơn vị sự nghiệp có thu, được thành lập nhằm cung cấp dịch vụ công cho xã hội không vì lợi nhuận mà vì lợi ích chung có những hoạt động phục vụ lợi ích tối thiểu cho xã hội, đảm bảo các quyền, nghĩa vụ cơ bản của con người, đảm bảo cuộc sống bình thường, an toàn. Có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước (KBNN) để phản ánh các khoản kinh phí trong và ngoài NSNN theo qui định của Luật NSNN.
Phân loại Bệnh viện công lập * Phân loại theo tuyến chuyên môn kỹ thuât - Tuyến trung ương (sau đây gọi là tuyến 1) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây: 2 a) Bệnh viện hạng đặc biệt; b) Bệnh viện hạng I trực thuộc Bộ Y tế; c) Bệnh viện hạng I trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây viết tắt là Sở Y tế) hoặc thuộc các Bộ, ngành khác được Bộ Y tế giao nhiệm vụ là tuyến cuối về chuyên môn kỹ thuật; - Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là tuyến 2) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây: a) Bệnh viện xếp hạng II trở xuống trực thuộc Bộ Y tế; b) Bệnh viện hạng I, hạng II trực thuộc Sở Y tế hoặc thuộc các Bộ, ngành khác, trừ các bệnh viện được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều này; - Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi là tuyến 3) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây: a) Bệnh viện hạng III, hạng IV, bệnh viện chưa xếp hạng, trung tâm y tế huyện có chức năng khám bệnh, chữa bệnh ở những địa phương chưa có bệnh viện huyện, bệnh xá công an tỉnh; b) Phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, nhà hộ sinh. - Tuyến xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là tuyến 4) bao gồm các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau đây: a) Trạm y tế xã, phường, thị trấn; b) Trạm xá, trạm y tế của cơ quan, đơn vị, tổ chức; c) Phòng khám bác sỹ gia đình. - Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân: Căn cứ năng lực thực hiện kỹ thuật, phạm vi hoạt động chuyên môn, hình thức tổ chức, quy mô hoạt động, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Y tế hoặc Sở Y tế) cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân quyết định (bằng văn bản) tuyến chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân phù hợp với quy định. * Phân loại Bệnh viện theo mức độ tự chủ - ĐVSNCL tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư; - ĐVSNC tự đảm bảo chi thường xuyên; - ĐVSNCL đảm bảo một phần chi thường xuyên (do giá, phí dịch vụ sự nghiệp công chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá, phí chưa tính đủ chi phí - ĐVSNCL do nhà nước đảm bảo chi thường xuyên (theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, không có nguồn thu hoặc nguồn thu thấp) [12].
Chất lượng nguồn nhân lực tại Bệnh viện công lập 1. Khái niệm, phân loại nguồn nhân lực Khái niệm Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực: Theo Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm (2008) cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân. Như vậy ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: Tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo Trần Xuân Cầu (2015) thì “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia lao động”. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động của quốc gia, tổ chức/doanh nghiệp. Do đó, nguồn nhân lực của tổ chức theo nghĩa hẹp là bao hàm những người trong độ tuổi và có khả năng lao động. Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn nhân lực con người cho sự phát triển của quốc gia, tổ chức/doanh nghiệp.
Do đó, nguồn nhân lực của tổ chức/doanh nghiệp theo nghĩa rộng là bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng hiện còn đang tham gia lao động. 4 Theo Trần Xuân Cầu (2015): "Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, thái độ, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của môi cá nhân và của đất nước". + Phân loại nguồn nhân lực Theo Tạ Ngọc Hải (2010) thì tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu để phân loại nguồn nhân lực. Căn cứ vào sự hình thành thì nguồn nhân lực được phân thành 3 loại: Nguồn nhân lực có sẵn trong dân số (dân số hoạt động): bao gồm số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
Nguồn nhân lực trong hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế): bao gồm những người thuộc nguồn nhân lực sẵn có trong dân số hiện đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân và một bộ phận tuy chưa có việc nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Nguồn nhân lực dự trữ: bao gồm những người cũng trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng vì những lý do khác nhau mà họ không tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế (ví dụ như sinh viên mới tốt nghiệp; phụ nữ sinh con; bộ đội xuất ngũ;. Căn cứ vào vai trò, vị trí của nguồn nhân lực thì nguồn nhân lực được phân thành 3 loại: Nguồn nhân lực chính: bao gồm những người lao động nằm trong độ tuổi lao động có khả năng lao động Nguồn nhân lực phụ: bao gồm những người ngoài độ tuổi lao động. Trong số này lại phân thành nguồn nhân lực phụ trên tuổi (nam từ 61đến 65 tuổi, nữ từ 56 đến 60 tuổi) và nguồn nhân lực phụ dưới tuổi (tuổi từ 12 đến 14).
Nguồn nhân lực bổ sung: dựa vào 3 nguồn chính là lực lượng quân đội hết nghĩa vụ, lực lượng hợp tác lao động với nước ngoài, học sinh, sinh viên. Căn cứ vào chức năng công việc đảm nhiệm nguồn nhân lực thì nguồn nhân lực được phân loại như sau: Theo chức năng sản xuất, chế biến thì có: nhân công trực tiếp (là những lao động tham gia trực tiếp vào quá trình chế tạo sản phẩm) và nhân công gián tiếp (là những nhân công phục vụ cho những nhân công trực tiếp hoặc chỉ tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất). Theo chức năng lưu thông, tiếp thị: bao gồm bộ phận bán hàng, tiêu thụ sản phẩm và nghiên cứu thị trường. Theo chức năng quản lý hành chính: đây là bộ phận nhân công tham gia vào quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp 5 Phân loại nguồn nhân lực theo chức năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tập hợp chi phí, tính giá thành và quản lý lao động, quản lý quỹ tiền lương.
Phân loại theo tiêu thức này có ý nghĩa lớn trong việc lập kế hoạch lao động trong từng bộ phận của doanh nghiệp như: bộ phận sản xuất kinh doanh trực tiếp; bộ phận quản lý. Mặt khác tạo điều kiện trong việc lập dự toán và thực hiện các dự toán chi phí kinh doanh, quỹ lương,. Ngoài ra còn có những cách phân loại khác tuỳ theo yêu cầu của quản lý như: phân loại lao động theo năng lực, theo trình độ chuyên môn,.