CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Các khái niệm, đặc điểm dịch vụ hành chính công 1.1 Khái niệm dịch vụ • Khái niệm dịch vụ và các đặc điểm Khác với hàng hóa nhìn thấy được, dịch vụ là những tiện ích vô hình, quá trình cung cấp các tiện ích đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nghiên cứu này trích dẫn các khái niệm phổ biến từ nhiều nghiên cứu khác như sau: Theo Zeithaml và Britner (2000): Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của họ. Dịch vụ phân biệt với hàng hóa ở đặc tính là tính vô hình, có thể thay đổi [30]. Theo Trần Văn Chánh và Huỳnh Văn Thanh (2004): Dịch vụ là “một hoạt động hay một lợi ích mà bên này cống hiến cho bên kia.
Về cơ bản, hoạt động đó vô hình và không dẫn đến sự sở hữu bất kỳ thứ gì” [9]. Như vậy, dịch vụ là những hoạt động tạo ra lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về một lĩnh vực. • Đặc điểm dịch vụ Có nhiều định nghĩa dịch vụ khác nhau. Theo Russell Wolak và cộng sự (1998) [28]; Parasuraman và cộng sự (1985) [27], dịch vụ có 4 đặc điểm như sau: - Dịch vụ là sản phẩm mang tính vô hình.
Dịch vụ không có hình thái rõ rệt, người sử dụng không thể thấy hoặc cảm nhận về nó trước khi sử dụng. - Tính không thể tách rời của dịch vụ được thể hiện ở sự khó khăn khi phân biệt giữa việc tạo thành dịch vụ và quy trình sử dụng dịch vụ như là hai công việc hay hai lĩnh vực riêng biệt. - Tính không đồng nhất giữa các thời điểm thực hiện dịch vụ và phụ thuộc vào cảm nhận cá nhân của khách hàng về dịch vụ. - Tính không lưu trữ được: Dịch vụ có quá trình sản xuất và sử dụng diễn ra đồng thời.
Vì vậy không thể lưu trữ được như các hàng hóa hữu hình. Nói cách khác không thể cất trữ và lưu kho dịch vụ trước khi đem ra lưu thông được.2 Khái niệm hành chính công 11 Theo Nguyễn Ngọc Hiến và cộng sự (2003) “Hành chính công là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức và là sự điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật của Nhà nước tới các quá trình xã hội và hành vi của con người thông qua việc các cơ quan hành chính Nhà nước từ trung ương đến địa phương tiến hành nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật, thoả mãn nhu cầu hợp pháp của công dân. Hành chính công trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc nhằm đạt được các mục tiêu của quốc gia một cách hữu hiệu nhất trong từng giai đoạn phát triển” [11].3 Khái niệm và đặc điểm dịch vụ hành chính công Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/06/2021 của Chính phủ đưa ra khái niệm "Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý"[4]. Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một TTHC để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân" [2].
Theo Nguyễn Ngọc Hiến và cộng sự (2006) "Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các lợi ích chung thiết yếu, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức"; trong đó, nhà nước có hai chức năng là quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; chức năng cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức và công dân trong xã hội [12]. Dịch vụ công ở Việt Nam có hai dịch vụ cơ bản sau đây: (1) " loại dịch vụ có tính chất công cộng phục vụ các nhu cầu chung, tối thiểu cần thiết của cả cộng đồng và mỗi công dân" như dịch vụ xã hội liên quan đến nhu cầu và quyền lợi cơ bản của con người như y tế, giáo dục, văn hoá, thông tin. Dịch vụ công ích như bưu chính viễn thông, vệ sinh môi trường .; (2) " các hoạt động đáp ứng các quyền tự do, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân". Một đặc điểm cơ bản của dịch vụ hành chính công là việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền mang tính quyền lực pháp lý.2 Lý thuyết liên quan đến chất lượng dịch vụ hành chính công và sự hài lòng của khách hàng 1.1 Chất lượng dịch vụ hành chính Có rất nhiều nghiên cứu về chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào đối tượng và môi trường nhiên cứu.
Theo Nguyễn Đình Phan (2005), chất lượng dịch vụ là sự thoả mãn khách hàng được đo bằng hiệu số giữa chất lượng mong đợi và chất lượng đạt được [13]. Theo Wisniewski (2001) cho rằng hiện tại có hai định nghĩa về chất lượng dịch vụ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm [30]: + Chất lượng dịch vụ là mức độ mà dịch vụ đó đáp ứng được nhu cầu hoặc mong đợi của khách hàng (Asubonteng và cộng sự., 1996; Lewis vaf Mitchel, 1990). + Chất lượng dịch vụ là sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng trước khi thực hiện dịch vụ và cảm nhận của họ về dịch vụ nhận được (Parasuraman và cộng sự., 1985, Lewis vaf Mitchel, 1990) [27]. Theo Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ là một khái niệm tổng hợp của nhiều khía cạnh (nhân tố). Parasuraman và cộng sự (1985) đưa ra 10 khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm (1) sự tin cậy; (2) khả năng đáp ứng; (3) năng lực phục vụ; (4) sự tiếp cận, (5) lịch sự, (6) kết nối, (7) tín nhiệm, (8) độ an toàn, (9) hiểu biết khách hàng và (10) phương tiện hữu hình [25]. Từ quan điểm của Parasuraman và cộng sự (1988), chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ chất lượng dịch vụ có ba cấp độ khác nhau: Cấp độ 1: Không đáp ứng dịch vụ là trường hợp càm nhận của khách hàng về kết quả dịch vụ thấp hơn kỳ vọng của họ về dịch vụ đó. Cấp độ 2: Đáp ứng dịch vụ như kỳ vọng, đây là trường hợp cảm nhận của khách hàng về kết quả nhận được từ dịch vụ đúng như kỳ vọng trước khi sử 13 dụng.
Cấp độ 3: Đáp ứng của dịch vụ vượt quá kỳ vọng của khách hàng. Đây là trường hợp tạo ra sự thích thú ngoài mong đợi của khách hàng khi sử dụng dịch vụ. Chỉ khi dịch vụ đạt cấp độ 2 và 3 mới được gọi là dịch vụ có chất lượng tốt. Như vậy, chất lượng dịch vụ bao hàm nhiều khía cạnh khác nhau, là một chỉ tiêu tổng hợp chứ không phải một khái niệm đơn khía cạnh.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ hành chính Theo Nguyễn Hữu Hải và cộng sự (2010), chất lượng dịch vụ hành chính được đánh giá thông qua các tiêu chí sau [14]: a) Tiêu chí về mục tiêu hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Theo quyết định thành lập và phân công chức năng nhiệm vụ, mỗi cơ quan hành chính nhà nước đều có những mục tiêu cụ thể để tham gia một phần vào mục tiêu chung của quản lý nhà nước.
Qua đó đảm bảo sự ổn định, trật tự và công bằng xã hội trong phạm vi quản lý được giao. Tuy các mục tiêu không tạo nên chất lượng của một dịch vụ hành chính cụ thể, nhưng việc xác định chính xác mục tiêu, chức năng nhiệm vụ thể hiện sự cam kết của cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình phục vụ. Nội dung này được thể hiện trong chính sách chất lượng khi áp dụng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015. b) Tiêu chí phản ánh các yếu tố cấu thành đầu vào của cơ quan hành chính Yếu tố cấu thành đầu vào của cơ quan hành chính góp phần tạo nên chất lượng của dịch vụ hành chính, gồm 2 phần: (1) thông qua năng lực hành chính nhà nước như: hạ tầng cơ sở gồm nhà cửa, thiết bị, công cụ thông tin và các phương tiện kỹ thuật khác.
(2) Nhân sự hành chính là tiêu chí quan trọng, thể hiện tính quyết định trong dịch vụ hành chính. Năng lực của đội ngũ CBCC trong giải quyết các công việc hành chính và thái độ (tôn trọng và tận tụy phục vụ nhân dân), yêu cầu của khách hàng là nhu cầu hay mong đợi của họ đối với những dịch vụ mà họ cần thụ hưởng. c) Tiêu chí về giải quyết công việc cho người dân Tiêu chí này là năng lực giải quyết dịch vụ hành chính của CBCC. Yêu 14 cầu đối với quá trình này cần được diễn ra dân chủ và công bằng, công khai, minh bạch về thông tin, có độ tin cậy nghĩa là đảm bảo thực hiện những thỏa thuận phù hợp với các nguồn lực cần được huy động; luôn sẵn sàng nghĩa là chuẩn bị chủ động để đáp ứng yêu cầu của dân khi giao tiếp, trao đổi giải quyết công việc; cư xử thân thiện thể hiện kích thích tinh thần nhằm tạo mối quan hệ gần gũi, đồng cảm với người dân để tìm kiếm giải pháp hợp lý trong những tình huống khó xử và cuối cùng thời gian giải quyết công việc đúng theo quy định.
d) Tiêu chí phản ánh đầu ra của dịch vụ hành chính Đầu ra của dịch vụ là kết quả giải quyết các yêu cầu của khách hàng. Nội dung này thể hiện bằng những văn bản, giấy tờ hành chính mà họ nhận được từ các cơ quan hành chính. Để đánh giá kết quả này cần xem xét ở ba tiêu chí sau: (1) kết quả trả hồ sơ cho khách hàng, thuộc trách nhiệm của cơ quan giải quyết công việc hành chính; (2) khoảng thời gian giải quyết công việc, thuộc trách nhiệm của cả cơ quan ban hành quy trình, TTHC và cơ quan giải quyết công việc hành chính; (3) những văn bản, giấy tờ hành chính giải quyết công việc cho khách hàng, nếu thiếu chính xác sẽ gây phiền toái khi thoả mãn một nhu cầu nào đó. e) Tiêu chí đánh giá kết quả của đầu ra Kết quả đầu ra thể hiện ở hai tiêu chí: (1) mức độ đạt được mục tiêu của quản lý.