chương 1 Trong chương này, tác giả trình bày các vấn đề về lý do chọn đề tài; mục tiêu nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; những đóng góp của luận văn; và kết cấu của đề tài. e -6- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về hành chính công 2. Khái niệm hành chính công Nguyễn Ngọc Hiến (2006) đã định nghĩa hành chính trên 2 gốc độ.
Theo nghĩa rộng, hành chính là những hoạt động, những tiến trình chủ yếu có liên quan đến những biện pháp để thực thi các mục tiêu, nhiệm vụ đã được xác định trước. Theo nghĩa hẹp, hành chính là những hoạt động quản lý các công việc của nhà nước, xuất hiện cùng với nhà nước [6]. Như vậy, hành chính là một thuật ngữ chỉ một hoạt động hoặc tiến trình chủ yếu có liên quan tới những biện pháp để thực thi những mục tiêu, nhiệm vụ đã được vạch sẵn. Gắn liền với phạm vi của khu vực công, hành chính công là hoạt động của Nhà nước, của cơ quan Nhà nước, mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để quản lý công việc công của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung hay lợi ích riêng hợp pháp của công dân.
Đơn vị hành chính công Theo Hiến pháp Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam được ban hành vào năm 2013, Đơn vị hành chính công là đơn vị hành chính được phân định theo địa giới hành chính, theo đó đơn vị hành chính ở Việt Nam được chia thành ba cấp: cấp tỉnh, huyện, xã. Tương ứng mỗi cấp đơn vị hành chính có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. Theo Luật Tổ chức Chính quyền địa phương được ban hành vào ngày 19/05/2015, tại Điều 2 quy định các đơn vị hành chính ở Việt Nam gồm: - Cấp tỉnh: các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; e -7- - Cấp huyện: các huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương; - Cấp xã: các xã, phường, thị trấn. Chức năng đơn vị hành chính công Mỗi đơn vị hành chính công có chức năng, nhiệm vụ được quy định bởi các cơ quan có thẩm quyền và theo quy định của pháp luật.
Mỗi đơn vị hành chính công có hai chức năng cơ bản là: - Chức năng quản lý nhà nước trên lĩnh vực, ngành của địa phương nhằm đảm bảo trật tự, công bằng xã hội, bao gồm các hoạt động quản lý và điều tiết đời sống kinh tế - xã hội thông qua các công cụ quản lý vĩ mô như pháp luật, chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và kiểm tra, giám sát,… - Chức năng cung ứng các dịch vụ hành chính công phục vụ cho lợi ích, nhu cầu của công dân, ngay cả khi các nhu cầu này có thể phát sinh từ những yêu cầu của nhà nước. Đặc tính của nền hành chính nhà nước Việt Nam Nhìn chung, đặc tính nền hành chính nhà nước Việt Nam cần thể hiện đầy đủ bản chất của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đồng thời phải đảm bảo tính hiện đại, hiệu quả cả về mặt xã hội cũng như quản lý của nhà nước. Theo đó, nền hành chính nhà nước Việt Nam bao gồm các đặc tính sau: - Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị Nguồn gốc và bản chất của một nhà nước bắt nguồn từ bản chất chính trị của chế độ xã hội dưới sự lãnh đạo của một chính đảng. Theo đó, dưới chế độ tư bản nhà nước sẽ mang bản chất của giai cấp tư sản nhưng dưới chế độ cộng sản nhà nước lại mang bản chất của giai cấp vô sản.
Nền hành chính được tổ chức và vận hành dưới sự lãnh đạo, điều hành của chính phủ và chính phủ lại do đảng cầm quyền tạo lập. Vì vậy, nền hành chính phải lệ thuộc vào hệ thống chính trị, phải phục tùng sự lãnh đạo của đảng cầm quyền. e -8- Tại Việt Nam, nền hành chính nhà nước mang đầy đủ bản chất của một Nhà nước dân chủ XHCN, nhà nước của dân, do dân và vì dân, dựa trên nền tảng của liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam nằm trong hệ thống chính trị, có hạt nhân lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội giữ vai trò tham gia và giám sát hoạt động của Nhà nước, mà trọng tâm là nền hành chính.
- Tính pháp quyền Nền hành chính nhà nước được tổ chức và hoạt động tuân theo những quy định pháp luật nhằm thực hiện quyền lực nhà nước. Tính pháp quyền đòi hỏi các cơ quan hành chính, cán bộ công chức trong các cơ quan hành chính phải nắm vững quy định về mặt pháp luật, sử dụng đúng chức năng và thẩm quyền trong thực thi công vụ. Mỗi cán bộ công chức cần chú trọng vào việc nâng cao uy tín về chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực thực thi để phục vụ nhân dân. Tính pháp quyền của nền hành chính được thể hiện trên cả hai phương diện là quản lý nhà nước bằng pháp luật và theo pháp luật.
- Tính phục vụ nhân dân Hành chính nhà nước có bổn phận phục vụ sự nghiệp phát triển xã hội và đáp ứng nhu cầu cơ bản của công dân. Vì vậy, phải xây dựng một nền hành chính công tâm, trong sạch, không theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, không lạm dụng quyền lực để đòi hỏi người dân trả thêm chi phí không chính thức. - Tính hệ thống thứ bậc chặt chẽ Nền hành chính nhà nước được cấu tạo gồm một hệ thống định chế tổ chức theo thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ Trung ương tới các địa phương, trong đó cấp dưới phục tùng cấp trên, nhận chỉ thị mệnh lệnh và chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp trên. e -9- - Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao Nhằm nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước, yêu cầu những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước cần phải có trình độ chuyên môn nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực được phân công nhiệm vụ.
Dịch vụ hành chính công 2. Khái niệm dịch vụ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dịch vụ như sau: Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng: “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc như cung cấp, hỗ trợ và tháo gỡ các khó khăn vướng mắc của khách hàng nhằm làm thỏa mãn nhu cầu mong đợi của khách hàng” [23]. Philip Kotler (2006) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [21].
Theo Nguyễn Văn Thanh (2008): “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn” [8]. Như vậy, nhìn chung có thể hiểu, dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là loại hàng hóa phi vật chất, được tạo nên nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dịch vụ là loại hàng hóa phi vật chất bởi các đặc tính của nó như: tính vô hình, đồng nhất, tính không thể tách rời, tính không lưu giữ được. Khái niệm về dịch vụ công Từ khái niệm dịch vụ nói chung và đặc điểm của khu vực công có thể đưa ra khái niệm dịch vụ công như sau: Dịch vụ công là hoạt động của các cơ e -10- quan nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung thiết yếu của người dân.
Việc cung cấp dịch vụ công do nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội. Khái niệm về dịch vụ hành chính công Theo Lê Chi Mai (2006), “Dịch vụ hành chính công là những họat động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý nhà nước”[2]. Theo Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa (2010), “Dịch vụ hành chính công là hoạt động do các tổ chức hành hình thực hiện liên quan đến việc phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và phục vụ việc quản lý nhà nước, về cơ bản dịch vụ này do cơ quan nhà nước thực hiện”[5]. Theo Nghị định số 43/2011/NĐ-CP của Chính phủ, “Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý”.
Như vậy có thể hiểu, dịch vụ hành chính công là loại hình dịch vụ công do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp phục vụ yêu cầu cụ thể của công dân và tổ chức dựa trên quy định của pháp luật. Những đặc trưng của dịch vụ hành chính công Theo Nguyễn Ngọc Hiến (2006) dịch vụ hành chính công có những đặc trưng cơ bản sau: (1) Việc cung ứng dịch vụ hành chính công luôn gắn với thẩm quyền và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; (2) Dịch vụ hành chính công nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước; (3) Dịch vụ hành chính công là những hoạt động không vụ lợi, chỉ thu phí là lệ phí nộp e -11- ngân sách nhà nước (theo quy định chặt chẽ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền); (4) Mọi công dân và tổ chức đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp nhận và sử dụng các dịch vụ hành chính công [6]. Chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ hành chính công 2. Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rất rộng và phức tạp nên hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ.