CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO – CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO THỰC HÀNH 1. Khái niệm đào tạo thực hành 1. Khái niệm về đào tạo Người học để trở thành người lao động có kỹ thuật, có năng lực thực hành nghề, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu công việc cần được đào tạo. Đào tạo là một quá trình, đào tạo từ lúc người học còn trên ghế nhà trường, đào tạo sau khi người lao động đã tham gia làm việc cho một tổ chức.
Đào tạo được định nghĩa cụ thể như sau: Đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành một cách có hệ thống các tri thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề, có năng suất và hiệu quả con người. [Bộ giảng dục và đào tạo (2004), “Báo cáo tình hình giảng dục chuyên nghiệp trình đoàn thẩm định” HN. Khái niệm đào tạo thực hành Đào tạo thực hành là một loại hình trong quá trình đào tạo bao gồm trang bị các kiến thức cho người học một cách có hệ thống và rèn luyện các kỹ năng thực hành, tác phong làm việc trong phạm vi ngành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm tốt một nghề nhất định. Đào tạo thực hành được định nghĩa cụ thể như sau: Đào tạo thực hành là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm tập trung, cụ thể và triệt để nhất nguyên lý giảng dục lý luận đi đôi với thực hành và học đi đôi với hành giúp cho người học có những năng lực thực hành nghề nghiệp đó.
Mục tiêu nội dung của đào tạo thực hành 1. Mục tiêu Mục tiêu đào tạo là hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ và các yêu cầu giảng dục toàn diện mà học sinh phải đạt được sau khi tốt nghiệp. Vì vậy việc xác định mục tiêu đào tạo có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của quá trình đào tạo. Nó giúp giảng viên xác định phải dạy gì? đến mức độ nào? từ đó lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp, đánh giá được khách quan, đúng đắn kết quả học tập của học sinh.
Nó giúp cho người học biết mình phải học những gì để có thể làm được những việc gì sau khi học xong. Mục tiêu đào tạo thực hành là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung Nội dung của đào tạo thực hành gồm nhiều nội dung của hoạt động đào tạo nói chung cụ thể như sau: Xác định nhu cầu, mục tiêu đào tạo. Trong bất kỳ một giai đoạn lịch sử nào thì hoạt động đào tạo trong mỗi nhà trường cũng nên và cần thiết dựa trên nhu cầu thực tế của thị trường sức lao động để từ đó xác định nhu cầu đào tạo cụ thể cho đơn vị mình.
Việc xác định nhu cầu đào tạo bao gồm việc xác định nhu cầu số lượng và nhu cầu chất lượng đào tạo. Mục tiêu đào tạo là hệ thống những kiến thức, kỹ năng, thái độ và các yêu cầu giảng dục toàn diện mà học sinh phải đạt được sau khi tốt nghiệp. Vì vậy việc xác định mục tiêu đào tạo có ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao hiệu quả của quá trình đào tạo. Nó giúp giảng viên xác định phải dạy gì? đến mức độ nào? từ đó lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp, đánh giá được khách quan, đúng đắn kết quả học tập của học sinh.
Nó giúp cho giảng viên biết mình phải học những gì để có thể làm được những việc sau khi học xong. Xây dựng chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo là các môn học hay các chuyên đề được đưa vào giảng dạy nhằm cung cấp các kiến thức, kỹ năng cho học viên. Nội dung chương trình đào tạo là yếu tố quan trọng nhất trong giảng dục đào tạo.
Nội dung đào tạo trong toàn khóa học ở mỗi trình độ của từng ngành đào tạo được thể hiện thành chương trình đào tạo. Chương trình đào tạo của mỗi ngành đào tạo lại do các trường xây dựng trên cơ sở chương trình khung của bộ Giảng dục và Đào tạo quy định. Chương trình khung gồm cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn học cơ bản và chuyên ngành; giữa lý thuyết và thực hành, thực tập. Lựa chọn phương pháp dạy học Phương pháp dạy học là hoạt động có mục đích rõ ràng của giảng viên nhằm truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo tạo điều kiện cho sinh viên tiếp thu và phát triển một cách tốt nhất khả năng của họ.
Thực tế quá trình đào tạo là sự kết hợp của hai quá trình: dạy và học. Do đó, lựa chọn phương pháp đào tạo là sự phối hợp giữa phương pháp dạy và phương pháp học, đây cũng một là yếu tố quan trọng của quá trình dạy học và giữ vai trò quyết định đối với chất lượng đào tạo. Xây dựng cơ sở vật chất cho đào tạo. Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo trong mỗi nhà trường là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo.
Mỗi một ngành nghề đào tạo đòi hỏi hệ thống phương tiện riêng, nhưng chung quy lại thì hệ thống cơ sở vật chất trong nhà trường gồm: phòng học lý thuyết, phòng học thực hành, phòng thí nghiệm, xưởng thực tập, các phòng ban chức năng, thư viện, ký túc xá, các phương tiện dạy học. Xây dựng đội ngũ giảng viên Đội ngũ giảng viên giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo, vì vậy quá trình xây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng, đảm bảo quy mô và yêu cầu công việc phải xuất phát từ nhiều phía: giảng viên, Nhà trường, quy định của Nhà nước. Trong luận văn này tác giả đề cập chủ yếu tới các hoạt động đào tạo thực hành Hoạt động đào tạo thực hành - Đào tạo, hướng dẫn cho sinh viên có đầy đủ kiến thức sâu rộng về khoa học kỹ thuật làm nền tảng cho việc nắm bắt đầy đủ các kỹ năng, quy trình, nguyên lý hoạt động, cấu tạo, công dụng và cách vận hành các máy móc. - Đào tạo cho sinh viên có kiến thức về lĩnh vực điều khiển tự động, tự động hoá các quá trình công nghệ và khả năng lập trình cho các loại máy, sử dụng thành thạo các phần mềm.
- Đào tạo cho sinh viên có đủ năng lực để thiết kế, chế tạo, bảo dưỡng và phục hồi các chi tiết, thiết bị và các máy móc phục vụ cho đời sống, các ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân và quốc phòng với điều kiện đảm bảo kỹ thuật và chất lượng tin cậy. - Tổ chức và quản lý một quá trình công nghệ, một phân xưởng hay một văn phòng độc lập. - Giải quyết các vấn đề nghiệp vụ hợp lý. - Trang bị kiến thức thực tiễn về an toàn lao động trong sản xuất, trong kinh doanh và bảo vệ môi trường.
Chất lượng đào tạo và chất lượng đào tạo thực hành 1. Chất lượng đào tạo Có rất nhiều khái niệm về chất lượng, đứng trên góc độ khác nhau có khái niệm về chất lượng khác nhau, sau đây là một số khái niệm về chất lượng * Chất lượng là “tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc). làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (Từ điển tiếng Việt phổ thông, NXB Khoa học xã hội, H. * Chất lượng là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia” (Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giảng dục, 1998).
* Chất lượng là “mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (theo Oxford Poket Dictionnary). * Chất lượng là “tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thoả m•n nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp – NFX 50- 109). * Theo chuyên gia K Ishikawa: “Chất lượng là khả năng thoả mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất” [11, tr 22]. Tác giả lấy khái niệm sau làm cơ sở cho luận văn của mình: Chất lượng là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được, những thông số này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc giá trị sử dụng của nó.
[Nguyễn Đình Phan (2005) “Giảng trình quản lý chất lượng trong các tổ chức”, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội. trang 10] - Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được - Với quan niệm chất lượng tương đối thì từ “chất lượng” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta “gán cho” sản phẩm, đồ vật. Theo quan niệm này thì một vật, một sản phẩm, hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn mà người sản xuất định ra, và các yêu cầu người tiêu thụ đòi hỏi. Từ đó nhận ra rằng chất lượng tương đối có hai khía cạnh: Thứ nhất: Đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề ra.
Khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”. Thứ hai: Chất lượng được xem là sự thoả m•n tốt nhất những đòi hỏi của người dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”. Tại mỗi nhà trường đào tạo hàng năm đều có nhiệm vụ được uỷ thác của các cơ quan chủ quản quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường. Từ nhiệm vụ uỷ thác này, nhà trường xác định các mục tiêu và chiến lược đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài”; đồng thời các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm mục đích đạt mục tiêu đó, đạt “chất lượng bên trong”.