phần mở đầu và kết luận, nội dung báo cáo chia làm 4 chương như sau: Chƣơng 1. Tổng quan và phương pháp nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết về đào tạo cho lao động đi làm việc ở nước ngoài. Thực trạng chất lượng công tác đào tạo cho lao động đi làm việc ở nước ngoài tại Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư thiết bị đường sắt (Virasimex).
Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đào tạo cho lao động đi làm việc ở nước ngoài. TỔNG QUAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1) Luận văn chuyên ngành Kinh tế chính trị của Ths. Bùi Huy Nam (2008) về “Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng”.
Luận văn đã làm rõ toàn bộ hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và quy trình quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Đồng thời, luận văn phân tích thực trạng quản lý đối với hoạt động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, so sánh với quy trình nhằm chỉ ra giải pháp đổi mới hoạt động quản lý nhà nước đối với hoạt động này. 2) Luận văn chuyên ngành kinh tế của Ths.Nguyễn Thị Thu Hằng (2010) “Đào tạo nghề cho người lao động Việt Nam tham gia xuất khẩu lao động”. Luận văn đã làm rõ các khái niệm liên quan đến đào tạo, đào tạo nghề, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo nghề và đã phân tích toàn bộ thực trạng đào tạo nghề cho lao động Việt Nam trước khi đưa đi làm việc ở nước ngoài.
Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện chất lượng đào tạo nghề đối với lao động Việt Nam trước khi đi. 3) “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam đến năm 2020”, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội, 2012 của TS. Bùi Sỹ Tuấn. Công trình đã tập trung làm rõ các nội dung sau: i) Cơ sở lý thuyết về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động; ii) Phân tích các vấn đề thực tiễn của chất lượng nguồn nhân lực tham gia xuất khẩu lao động của Việt Nam giai đoạn 2000- 2010.
Qua đó, chỉ ra những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động của Việt Nam và nguyên nhân của những hạn chế đó. Tác giả đã nhấn mạnh đến một số hạn chế trong công tác đào tạo nghề, dạy ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho lao động trước khi đi xuất khẩu lao động; iii) Đồng thời, tác giả cũng đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu XKLĐ của Việt Nam đến năm 2020 và các điều kiện để triển khai, ứng dụng trong thực tiễn. 5 4) Nghiên cứu đánh giá thực trạng lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trở về Việt Nam do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện dưới sự hỗ trợ của Ngân hàng thế giới (WB) thông qua 2 pha, pha I vào năm 2011 và pha II vào năm 2012. Nghiên cứu này nhằm phát hiện những mặt được và những tồn tại hạn chế của hoạt động xuất khẩu lao động.
Trên cơ sở đó, đề xuất các khuyến nghị chính sách xuất khẩu lao động để giảm thiểu các tác động tiêu cực và nâng cao hiệu quả các chương trình di cư ra nước ngoài trong những giai đoạn tiếp theo. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, Viện Khoa học Lao động và Xã hội đã tiến hành khảo sát trên diện rộng với những đối tượng là lao động đi làm việc ở 4 thị trường: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Malaysia đã trở về Việt Nam với tổng số đối tượng khảo sát gần 500 lao động. Khảo sát được thực hiện trên địa bàn 8 tỉnh: Thái Bình, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang vào năm 2010 và Hải Dương, Thanh Hóa, Nghệ An, TP. Hồ Chí Minh vào năm 2011 – là những tỉnh đại diện cho 3 miền Bắc, Trung, Nam.
Từ kết quả khảo sát, nghiên cứu đã khẳng định rõ những dịch vụ hỗ trợ cho người lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài như: thông tin xuất khẩu lao động, đào tạo trước khi đi làm việc ở nước ngoài (kể cả nghề và ngoại ngữ), vay vốn, được hỗ trợ đào tạo nghề… là rất cần thiết. Đặc biệt là công tác đào tạo cho lao động trước đi. Nếu người lao động được đào tạo tốt về ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức cần thiết và có nghề thì thu nhập, đời sống, việc làm tốt hơn nhiều so với những lao động không được đào tạo, không có kỹ năng. Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: lao động được đào tạo sau khi trở về sẽ có một tương lai tốt hơn so với những lao động không được đào tạo.
Từ đó, nghiên cứu đi đến khuyến nghị: tăng cường công tác đào tạo nghề, ngoại ngữ và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cho người lao động trước khi đi xuất khẩu lao động nhằm nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu và góp phần hỗ trợ tốt hơn cho lao động sau khi tái hòa nhập thị trường lao động Việt Nam. 5) Đề tài cấp Bộ “Các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài” (2010) do TS Hoàng Kim Ngọc - Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thực hiện với mục tiêu nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chất lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài, trên cơ sở 6 đó đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài và các điều kiện để triển khai, áp dụng trong thực tiễn. Về mặt lý thuyết, giáo dục – đào tạo là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động đi làm việc ở nước ngoài. Công tác đào tạo cho lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài cũng được đưa vào Luật người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, trong đó quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người lao động cũng như trách nhiệm của các tổ chức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài.
Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, trong thực tế việc đào tạo cho lao động chỉ dừng lại ở việc thực hiện theo Luật mà chưa nhằm mục đích góp phần nâng cao chất lượng cho lao động Việt Nam đi xuất khẩu lao động. Theo đó, nghiên cứu cũng đề xuất giải pháp tăng cường hơn nữa cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, tăng cường quản lý chất lượng… cho công tác đào tạo đối với lao động trước khi đi làm việc ở nước ngoài. 6) Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Những luận cứ để xây dựng chiến lược xuất khẩu lao động” (2008) do Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thực hiện cũng đã khẳng định: i) di cư lao động là một thực tế khách quan và là xu hướng rõ ràng đã, đang và sẽ ngày càng phát triển hơn trong tương lai; ii) nâng cao chất lượng lao động trước khi đi xuất khẩu lao động là một trong những hoạt động cần thiết phải thực hiện để hạn chế những tiêu cực và phát huy những tác động tích cực do xuất khẩu lao động mang lại; iii) do đó, đào tạo cho lao động xuất khẩu thông qua dạy ngoại ngữ, dạy nghề và bồi dưỡng kiến thức cần thiết cần đưa vào chiến lược xuất khẩu lao động nhằm xây dựng chính sách phù hợp cho hoạt động này. 7) Công trình của PGS.
TS Trần Thị Thu (2006): “Nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay”. Công trình nghiên cứu được PGS.TS Trần Thị Thu tiến hành trên cơ sở thực tiễn xuất khẩu lao động tại Công ty Cung ứng nhân lực quốc tế và Thương mại (SONA) và một số doanh nghiệp với mục đích làm rõ khái niệm và sự cần thiết nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động tại các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt 7 Nam, đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam và kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý xuất khẩu lao động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. 8) Luận văn chuyên ngành kinh tế thương mại của thạc sỹ Thái Thị Hồng Minh (2003): “Hoàn thiện quản lý dịch vụ XKLĐ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội”. Luận văn đã phân tích cơ sở lý luận về quản lý dịch vụ XKLĐ, đánh giá thực trạng của hoạt động quản lý dịch vụ xuất khẩu lao động của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội giai đoạn 1996-2002 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dịch vụ xuất khẩu lao động của Bộ.
9) Nghiên cứu về "Tình hình và xu hướng xuất khẩu lao động Việt Nam - Situation and Trends of Vietnamese Labor Export" tác giả Kannika Angsuthanasombat đã phân tích thực trạng xuất khẩu lao động ở Việt Nam trong đó nêu rõ, lao động Việt Nam ở nước ngoài tương đối thông minh, năng động, chăm chỉ làm thêm, tuy nhiên tác phong công nghiệp kém, những người đi XKLĐ chủ yếu từ nông thôn và nghèo, trình độ văn hoá thấp, ngoại ngữ không đủ để giao tiếp và làm việc ở nuớc ngoài. Tác giả cũng nêu khuyến nghị là Việt Nam cần nâng cao chất luợng LĐ đi làm việc ở nuớc ngoài – tăng khả năng cạnh tranh XKLĐ của Việt Nam, đặc biệt là tăng số lượng LĐ kỹ thuật, LĐ có nghề. 10) Ngoài ra, nhiều hội thảo và các khóa tập huấn do Bộ LĐTBXH, các bộ, ngành liên quan tổ chức đã nhấn mạnh việc cần đặc biệt quan tâm hỗ trợ pháp lý cho người lao động thông qua các lớp đào tạo, tập huấn trước khi lao động đi làm việc ở nước ngoài. Bộ LĐTBXH đã có nhiều Hội thảo giới thiệu về Kế hoạch hành động và các khuyến nghị của Diễn đàn lao động di cư ASEAN lần thứ 6 tại Brunei và thảo luận về thực hiện các khuyến nghị này ở cấp quốc gia.
Đặc biệt là cơ chế khiếu nại và giải quyết khiếu nại hiệu quả để bảo vệ các quyền và lợi ích của lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.