phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu và các từ viết tắt, Luận văn đƣợc kết cấu làm 4 phần có nội dung nhƣ sau: 4 z Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động và tổng quan tình hình nghiên cứu. Chƣơng 2 : Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng xuất khẩu lao động của Việt Nam sang Nhật Bản trong bối cảnh mới. Chƣơng 4: Kết luận và khuyến nghị 5 z CHƢƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về xuất khẩu lao động 1.
Khái niệm về việc làm Trong nền kinh tế thị trƣờng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã hình thành nhiều quan hệ lao động, các quan hệ lao động này ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, đan xen lẫn vào nhau. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, ngƣời ta đã đƣa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “Việc làm là gì?”. Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố (nhƣ điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp.) ngƣời ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau. Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm.
Theo Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”. Khái niệm nguồn lao động và lao động Nguồn lao động là một bộ phận của dân cƣ bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động (không kể những ngƣời mất khả năng lao động), và những ngƣời ngoài độ tuổi lao động (trên, dƣới độ tuổi lao động) thực tế có tham gia lao động. Ở Việt Nam, độ tuổi lao động theo quy định là từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ giới và từ 15 đến 60 tuổi đối với nam giới. Thực chất những ngƣời dƣới độ tuổi lao động thực tế có tham gia lao động ở Việt Nam hiện nay hơi khó xác định về phạm vi.
Thông thƣờng trẻ em từ 10 tuổi (thậm chí từ 7 – 8 tuổi) ở nông thôn đã tham gia vào lao động. Tuy nhiên để thống nhất với các số liệu thống kê đƣợc công bố thì việc độ tuổi nhóm này chỉ tính ngƣời từ dƣới 15 tuổi. 6 z Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm thay đổi những vật thể tự nhiên để phù hợp với lợi ích của mình. Lao động là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, là quá trình kết hợp sức lao động và tƣ liệu sản xuất.
Sức lao động là tổng thể lực và trí lực của con ngƣời trong quá trình tạo ra của cải xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của con ngƣời, là điều kiện đầu tƣiên cần thiết trong quá trình lao động xã hội. Trên thị trƣờng lao động, sức lao động đƣợc coi là hàng hóa – đó là loại hàng hóa đặc biệt vì con ngƣời có tƣ duy, tự làm chủ bản thân mình hay nói cách khác con ngƣời là chủ thể lao động. Thông qua thị trƣờng lao động, sức lao động đƣợc xác định là giá cả, hàng hóa lao động cũng tuân theo quy luật cung cầu của thị trƣờng 1. Khái niệm về xuất khẩu lao động Một trong những thế mạnh của nguồn lao động nƣớc ta là dồi dào, phong phú, ngƣời lao động cần cù, thông minh, chịu khó, dễ thích nghi với công việc, nhƣng do dân số nƣớc ta tăng nhanh trong khi đó các nhà máy xí nghiệp lại quá ít làm cho nguồn lao động của nƣớc ta bị dƣ thừa, tình trạng lao động ở nông thôn ào ạt lên thành thị tìm việc làm ngày càng nhiều làm cho nạn thất nghiệp càng cao.
Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu lao động là một trong những chiến lƣợc quan trọng của Đảng và Nhà nƣớc. Vậy xuất khẩu lao động là gì? Dƣới góc độ dân số học, việc di chuyển lao động giữa các quốc gia đã đƣợc hầu hết các chuyên gia dân số học của thế giới nghiên cứu và đƣa ra khái niệm “Di dân quốc tế”. Có thể nói hoạt động này vài thập kỷ gần đây đã diễn ra sôi động và thu hút đƣợc sự chú ý nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế. Nhƣng đây không phải là một hiện tƣợng kinh tế xã hội có tính mới mẻ mà nó đã xuất hiện ngay từ cuối thế kỷ 19.
Ngày nay, XKLĐ đã trở nên rất phổ biến và trở thành xu thế chung của thế giới. 7 z Ở Việt Nam, ngay từ những năm 1980 đã xuất hiện thuật ngữ “Hợp tác quốc tế lao động”, lúc đó đƣợc hiểu là sự trao đổi lao động giữa các quốc gia thông qua các hiệp định đƣợc thỏa thuận và ký kết giữa các quốc gia đó, là sự di chuyển lao động có thời hạn giữa các quốc gia một cách hợp pháp và có tổ chức. Trong hành vi trao đổi này nƣớc đƣa lao động đi đƣợc coi là nƣớc XKLĐ, còn nƣớc tiếp nhận sử dụng lao động đƣợc coi là nƣớc nhập khẩu lao động. Có một cách hiểu khác về XKLĐ: XKLĐ là sự hợp tác sử dụng lao động giữa nƣớc thừa và thiếu lao động, là việc di chuyển lao động có kế hoạch và có thời hạn từ nƣớc thừa lao động sang nƣớc thiếu lao động.
Theo khái niệm này có thể đƣa ra các dẫn suất nhƣ “nƣớc đƣa lao động đi, nƣớc tiếp nhận lao động, ngƣời đi hợp tác quốc tế về lao động…”. Trên thực tế cũng có xuất hiện vai trò của nƣớc thứ ba làm nhiệm vụ trung gian môi giới có tính chất kinh doanh. Ví dụ nhƣ năm 1980 hai công ty của Nhật Bản thuê lao động của Trung Quốc đi xây dựng bệnh viện và đƣờng cao tốc tại Irac. Trƣớc đây, khi nƣớc ta còn mối quan hệ mật thiết với hệ thống các nƣớc xã hội chủ nghĩa thì khái niệm “hợp tác quốc tế về lao động” có nội dung lớn, bao hàm nhiều lĩnh vực trong quan hệ quốc tế và lao động.
Trong quan hệ đó, hiệu quả kinh tế chƣa đƣợc coi trọng. Do đó, việc sử dụng khái niệm này ở nƣớc ta chỉ còn nguyên nghĩa trong phạm vi hợp tác giữa các nƣớc xã hội chủ nghĩa trƣớc kia. Ngày nay nƣớc ta thống nhất sử dụng thuật ngữ XKLĐ để nhấn mạnh hơn đến tính hiệu quả kinh tế của hoạt động này. Vì vậy chúng ta có thể hiểu XKLĐ là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia khác trên cơ sở những hiệp định hoặc những hợp đồng có tính chất pháp quy đƣợc thống nhất giữa các quốc gia đƣa và nhận lao động.
Xuất khẩu lao động không những giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, tăng thu nhập cho ngƣời lao động, tăng nguồn ngoại tệ cho đất nƣớc 8 z mà còn đẩy mạnh hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật,… giữa Việt Nam và các nƣớc trên thế giới theo nguyên tắc bình đẳng, hai bên cùng có lợi. Do đó, đẩy mạnh xuất khẩu lao động là một khâu quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nƣớc. Khái niệm về thị trường lao động Trong mỗi xã hội, ở nơi nào xuất hiện nhu cầu sử dụng lao động và có nguồn lao động cung cấp ở đó sẽ hình thành nên thị trƣờng cho lao động. Có thể hiểu thị trƣờng lao động là một lĩnh vực của nền kinh tế mà ở đó diễn ra quá trình mua bán, trao đổi, thuê, mƣớn sức lao động.
Khi cung và cầu lao động chỉ nảy sinh trong phạm vi biên giới một quốc gia thì ta có thị trƣờng lao động nội địa (thị trƣờng lao động trong nƣớc). Khi cung và cầu lao động nảy sinh ngoài biên giới quốc gia một nƣớc thì có thị trƣờng lao động quốc tế. Trên thị trƣờng lao động quốc tế, XKLĐ đƣợc thực hiện chủ yếu trên cơ sở quan hệ cung cầu lao động. Nó chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật kinh tế thị trƣờng.
Bên cầu phải tính toán kỹ hiệu quả của việc nhập khẩu lao động nên cần phải xác định một cách chặt chẽ số lƣợng, cơ cấu, chất lƣợng lao động hợp lý. Bên cung có mong muốn xuất khẩu càng nhiều lao động càng tốt. Do vậy, muốn loại hàng hóa đặc biệt này chiếm đƣợc ƣu thế trên thị trƣờng bên cung cấp lao động cần phải có sự chuẩn bị và đầu tƣƣ để đƣợc thị trƣờng chấp nhận, phải đáp ứng kịp thời về số lƣợng lao động có chất lƣợng cao. Chất lƣợng lao động càng cao càng đem lại hiệu quả kinh tế lớn và càng đƣợc thị trƣờng nƣớc ngoài dễ chấp nhận.
Chất lƣợng lao động cao đƣợc thể hiện ở trình ðộ tay nghề phù hợp với công nghệ của nýớc tiếp nhận lao ðộng, thể lực tốt, có ngoại ngữ, ðýợc trang bị ðầy ðủ kiến thức làm việc theo tác phong công nghiệp, am hiểu luật pháp và phong tục tập quán của nýớc sử dụng lao ðộng, có thể thích ứng nhanh với môi trƣờng làm việc mới. 9 z Song đối với hàng hóa sức lao động, thị trƣờng thế giới không phải là vô hạn và có rất nhiều đòi hỏi khắt khe với những quy định riêng. Thị trƣờng lao động là nơi ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động thực hiện các giao dịch, thỏa thuận về giá cả, sức lao động. Mà tại đây ngƣời lao động (bên cung) và ngƣời sử dụng lao động (bên cầu) là hai chủ thể của thị trƣờng lao động, có quan hệ ràng buộc với nhau, dựa vào nhau để tồn tại.
Thị trƣờng lao động là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trƣờng và chịu sự tác động của hệ thống quy luật của nền kinh tế thị trƣờng. Một thị trƣờng lao động tốt là thị trƣờng mà ở đó lƣợng cầu về lao động tƣơng ứng với lƣợng cung về lao động. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một loại hoạt động kinh tế và diễn ra gay gắt Ở nhiều nƣớc trên thế giới, xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp quan trọng thu hút lực lƣợng lao động đang tăng lên của nƣớc họ và thu ngoại tệ bằng hình thức chuyển tiền về nƣớc của ngƣời lao động và các lợi ích khác. Những lợi ích này đã buộc các nƣớc xuất khẩu lao động phải chiếm lĩnh mức cao nhất thị trƣờng lao động ở nƣớc ngoài, mà việc chiếm lĩnh đƣợc hay không lại dựa trên quan hệ cung cầu sức lao động.
Nó chịu sự điều tiết, sự tác động của các quy luật của kinh tế thị trƣờng.