Đặt vấn đề Có thể nói những năm trở lại đây, nền kinh tế của Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ, mở rộng quy mô hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế đã giúp cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Xu hướng sử dụng rượu, bia trong sinh hoạt hàng ngày, trong những dịp lễ, hội, trong quan hệ công việc… đang ngày càng gia tăng đã kéo theo mức tiêu thụ rượu, bia bình quân/người/năm ngày một tăng. Vào thời điểm năm 2006, mức tiêu thụ bia bình quân/người/năm ở nước ta là 15,8 lít, gần bằng 2/3 so với mức tiêu thụ chung của toàn thế giới (22 lít).
Mức tiêu thụ rượu bình quân/người/năm ở nước ta là 3,9 lít trong khi đó mức tiêu thụ chung trên toàn cầu là 6 lít… Và theo báo cáo xu hướng sử dụng đồ uống có cồn của Tổ chức Lương thực Nông nghiệp Liên hiệp quốc (FAO) cho thấy việc tiêu thụ rượu, bia của Việt Nam đã tăng lên rõ rệt trong hai thập kỷ qua. Từ mức tiêu thụ trung bình năm 1989 là khoảng 0,8 lít/người/năm đã tăng lên mức 1,4 lít/người/năm vào năm 2000. Vấn đề đặt ra là sử dụng rượu như thế nào là hợp lý? Do đó cần phải hiểu về rượu và các vấn đề liên quan đến rượu. Sử dụng rượu, bia với mức độ hợp lý, nếu chúng ta uống rượu với một số lượng vừa phải sẽ làm cho người uống có cảm giác khoan khoái vui vẻ dễ chịu, tạo cảm giác hưng phấn, giảm căng thẳng thần kinh, giảm mệt mỏi, giúp quên đi những khó khăn nhọc nhằn trong cuộc sống và có tác dụng an thần.
Uống rượu hợp lý giúp giảm rối loạn tiêu hóa, phòng loét dạ dày, giảm bệnh đái tháo đường, giảm đau khớp và loãng xương.… Song bên cạnh đó rượu bia cũng có những tác hại khủng khiếp. Uống rượu bia quá nhiều có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cả về mặt cơ thể và tâm thần. Rượu, bia lại là chất kích thích, gây nghiện, vì vậy người sử dụng rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng lạm dụng rượu, bia [1] Việc lạm dụng rượu, bia: uống rượu lượng nhiều và đều đặn mỗi ngày trong thời gian dài sẽ dẫn đến hội chứng nghiện rượu. Nó sẽ ăn mòn sức khỏe và nhân cách, gây nhiều tác hại nặng nề.
Nghiện rượu gây độc đến các hệ cơ quan như hệ tiêu hóa, hệ tim mạch, hệ tiết niệu hệ thần kinh và não bộ là cơ quan chịu tác hại trực tiếp và nặng nề nhất. Trong đó rối loạn tinh thần là một trong những biểu hiện bệnh lý mà rượu gây ra trên hệ thần kinh và não bộ. Rượu là nguyên nhân gây ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe tâm thần, có tác dụng ức chế hệ thần kinh với những biểu hiện cụ thể như: hoang tưởng, ảo giác, loạn thần do rượu, trì trệ trí tuệ, tâm thần phân liệt… và được xác định là những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến gánh nặng bệnh tật lớn của các rối loạn tâm thần. Ở nước ta trước đây các bệnh lý tâm thần do rượu gây ra rất ít, các nghiên cứu về lạm dụng rượu, nghiện rượu cũng không nhiều.
Nhưng trong những năm gần đây càng ngày càng xuất hiện nhiều trường hợp loạn thần do rượu phải vào điều trị tại các cơ sở bệnh viện tâm thần. Bệnh lý do rượu gây ra chiếm một tỷ lệ không nhỏ.Trước đây chỉ chiếm 0,31% số người bệnh nằm viện năm 1990 thì đến năm 1994 các bệnh lý tâm thần do rượu đã lên đến 6,99%, tăng hơn 22lần.Tỷ lệ người bệnh điều trị cấp cứu có những vấn đề liên quan đến ruợu chiếm số lượng nhiều: 3 ngộ độc rượu, chấn thương, những bệnh lý do rượu gây ra như xuất huyết tiêu hóa, xơ gan, bệnh lý thần kinh…, các cấp cứu tâm thần như sảng run, tự sát, giết người, đốt nhà. Theo Cục Y tế dự phòng Bộ Y tế, so sánh năm 2010-2015 đã thấy lượng người sử dụng rượu bia ở mức có hại tăng mạnh. Tỷ lệ nam giới sử dụng rượu bia ở mức có hại năm 2010 là 25% thì đến năm 2015 tỷ lệ này lên trên 44%.
Chính hậu quả của việc lạm dụng rượu bia cũng như hậu quả của việc nghiện rượu gây ra cho con người là rất nặng nề, vì vậy việc ngăn ngừa tình trạng lạm dụng rượu bia và hậu quả về sức khỏe kinh tế xã hội là chủ đề mang tính thời sự và rất cần thiết. Vì vậy đây là lý do mà tôi lựa chọn đề tài: “ Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm Thần tỉnh Nam Định” để nghiên cứu với 2 mục tiêu: Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng bệnh loạn thần do rượu của người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh Viện Tâm Thần tỉnh Nam Định. Mục tiêu 2: Đề xuất một số giải pháp chăm sóc hiệu quả cho người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh Viện Tâm Thần tỉnh Nam Định. Đặc điểm của nghiện rượu 1.1 Khái niệm chung về nghiện rượu.
(Thụy Sĩ)- người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “ nghiện rượu” để chỉ những người uống rượu thường xuyên và thái quá có những vấn đề về sức khỏe cơ thể và tâm thần. Cho đến nay, người ta đã xác định nghiện rượu là một loại bệnh lý do rượu, có các tác nhân thúc đẩy và nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, định nghĩa như thế nào là nghiện rượu thì vẫn đang là một vấn đề còn khó xác định. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau đề cập đến nhiều khía cạnh của nghiện rượu [4]: - Năm 1994 theo P.Keuricis định nghĩa: Nghiện rượu là sử dụng hàng ngày rượu vượt quá 1ml cho 1kg cân nặng hoặc 3/4 lít rượu vang 10 độ cho một người đàn ông nặng 70kg.Hary định nghĩa: Nghiện rượu là tất cả những hình thái uống rượu vượt quá việc sử dụng thông thường và truyền thống.[5] - Năm 1993 theo WHO , người ta định nghĩa nghiện rượu: những trường hợp uống rượu vô tình hay hữu ý để gây hại cho sức khỏe của mình thế được coi là lạm dụng rượu.
Nghiện rượu là sự thèm muốn dẫn đến sự đòi hỏi thường xuyên nước uống có rượu dẫn đến rối loạn nhân cách, thói quen, giảm khả năng hoạt động ảnh hưởng đến sức khỏe [5] Nghiện rượu có đặc điểm là rối loạn tâm thần phát sinh phối hợp với cơ thể do thèm bệnh lý đối với rượu, có hội chứng cai nếu ngừng uống rượu đột ngột, khả năng dung nạp rượu tăng, biến đổi nhân cách và có hội chứng suy não do nhiễm độc[6]. Nghiện rượu là một bệnh mạn tính, do nhu cầu uống rượu không được thỏa mãn một cách thường xuyên, gây thèm rượu bắt buộc làm ảnh hưởng đến hiệu suất công tác, đến sức khỏe tâm thần và thể chất, làm tổn thương đến các mối quan hệ gia đình và đời sống xã hội.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu (ICD-10) được xác định như sau : - Thèm muốn mãnh liệt không thể ngăn cản và bắt buộc phải uống rượu. - Giảm hoặc ngừng uống rượu là một việc rất khó khăn. - Có những chứng cứ về khả năng dung nạp rượu như tăng liều.
- Dần dần sao nhãng những thú vui trước đây vốn ưa thích. - Vẫn tiếp tục uống rượu, mặc dù biết những hậu quả tai hại của nó. Chỉ được chẩn đoán nghiện rượu khi có từ 3 triệu chứng trở lên và biểu hiện trong vòng 1 năm trở lại đây 5 1.Tác hại của rượu và hậu quả của nghiện rượu.Tác hại của rượu Có nhiều nguy mà do uống rượu quá nhiều có thể gây hại cho cơ thể[6] - Rượu gây ngộ độc trực tiếp cho một số cơ quan quan trọng như não, gan. - Uống rượu thường phối hợp với chế độ ăn nghèo dinh dưỡng và dẫn đến thiếu protein và VTM nhóm B.
- Người uống rượu nhiều có nguy cơ cao bị các tai nạn giao thông. - Người uống rượu nhiều thường có vệ sinh cơ thể bẩn do đó dẫn đến các bệnh nhiễm trùng. Các tổn thương thực tổn xảy ra ở vài cơ quan trong cơ thể: - Tổn thương ở hệ tiêu hóa: là phổ biến nhất, đặc biệt là ở dạ dày, tá tràng, viêm thực quản, viêm tụy cập và mạn. - Các tổn thương cơ thể khác của uống rượu quá nhiều như: thiếu máu, viêm cơ, xuất huyết mãn tính, các cơn hạ đường huyết, thiếu VTM và lao.
Hậu quả của nghiện rượu Nghiện rượu không những để lại hậu quả nghiêm trọng đến chính bản thân người sử dụng mà còn để lại những hậu quả nặng nề về mặt kinh tế và an ninh xã hội. * Hậu quả đối với cá nhân Nghiện rượu dẫn đến hàng loạt các rối loạn cơ thể, thần kinh và tâm thần khác nhau. Rượu sau khi vào cơ thể sẽ phân bổ đến hầu hết tất cả các cơ quan trong cơ thể. Việc sử dụng rượu và lạm dụng rượu lâu ngày sẽ ngày càng ảnh hưởng đến chức năng của các cơ quan, phát sinh ra các rối loạn và các bệnh lý khác nhau.
Theo các báo cáo tại Hội nghị “Sơ kết nghiên cứu dịch tễ, lâm sàng lạm dụng rượu”, tỷ lệ những người lạm dụng rượu gây hậu quả xấu về sức khoẻ trong các bệnh nội khoa giao động từ 0,7% đến 34%, trong bệnh thần kinh là 30-40%, còn trong các bệnh tâm thần là từ 50-74%. Năm 1996, Lâm Xuân Điền và cộng sự điều tra tại 5 bệnh viện đa khoa tại Thành phố Hồ Chí Minh thấy 17,1% số bệnh nhân có sử dụng rượu, trong số đó các bệnh về tiêu hoá là 20,9%, các bệnh về cơ khớp là 19,2%, các bệnh hô hấp là 11,6%, bệnh nhiễm trùng là 8,1% và bệnh tim mạch là 7,0%[4]. *Hậu quả về mặt xã hội Uống rượu quá nhiều gây tổn hại sâu sắc đến gia đình và xã hội. Nghiện rượu là nguyên nhân gây ra các mâu thuẫn trong hôn nhân, gia đình.
Tỷ lệ ly hôn, ly thân trong các gia đình có người nghiện rượu là rất cao, gia đình có người nghiện rượu thường hay phải lo lắng, lo âu, buồn bã, áp lực. Người 6 nghiện rượu thường bị suy giảm cả về mặt tinh thần và sức khỏe, mất dần khả năng lao động, khả năng đáp ứng nhu cầu công việc kém. Uống rượu và nghiện rượu liên quan chặt chẽ đến tai nạn giao thông. Tại Pháp, theo Ades J.
(năm 1990) thì nghiện rượu là nguyên nhân gây ra 15% số vụ tai nạn giao thông với các thiệt hại to lớn về con người và vật chất. Ngoài ra, nghiện rượu còn phải chịu trách nhiệm trong 25% số vụ tai nạn gia đình.