Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế, mức độ tiêu thụ rượu bia tại Việt Nam ghi nhận sự gia tăng nhanh chóng qua các năm. Theo số liệu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), mức tiêu thụ cồn nguyên chất bình quân tại Việt Nam đã tăng từ 0,8 lít/người/năm (năm 1989) lên 1,4 lít/người/năm (năm 2000). Đến năm 2006, mức tiêu thụ bia bình quân đạt 15,8 lít/người/năm và rượu đạt 3,9 lít/người/năm. Báo cáo của Cục Y tế Dự phòng (Bộ Y tế) cho thấy tỷ lệ nam giới sử dụng rượu bia ở mức nguy hại tăng từ 25% (năm 2010) lên trên 44% (năm 2015).

Hậu quả của việc lạm dụng rượu bia kéo dài tác động nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và tâm thần. Tại các cơ sở chuyên khoa tâm thần, tỷ lệ người bệnh điều trị do các rối loạn tâm thần liên quan đến rượu có xu hướng tăng vọt: từ 0,31% tổng số người bệnh nằm viện vào năm 1990 lên 6,99% vào năm 1994 (tăng hơn 22 lần). Người bệnh loạn thần do rượu thường nhập viện trong tình trạng cấp cứu với các biểu hiện sảng run, ảo giác, hoang tưởng chi phối hành vi nguy hiểm (tự sát, tấn công, hủy hoại tài sản) và các tổn thương thực tổn đa cơ quan. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong công tác điều trị và chăm sóc điều dưỡng chuyên khoa, tác giả Đỗ Thị Phương Thảo đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Điều dưỡng đa khoa với đề tài: "Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nội dung:

  1. Mô tả thực trạng bệnh loạn thần do rượu của người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định.
  2. Đề xuất một số giải pháp chăm sóc hiệu quả cho người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ người bệnh được chẩn đoán loạn thần do rượu đang điều trị nội trú tại tất cả các khoa của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định (địa chỉ tại đường Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định).
  • Phạm vi thời gian thu thập số liệu: Từ ngày 02/05/2018 đến ngày 20/05/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Tác giả xây dựng khung lý thuyết dựa trên các định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán y khoa chuyên ngành:

  • Khái niệm nghiện rượu: Tổng hợp từ định nghĩa của P. Keuricis (1994), Hary, và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1993). Nghiện rượu được xác định là một bệnh lý mạn tính phát sinh do nhu cầu uống rượu không được thỏa mãn thường xuyên, dẫn đến sự phụ thuộc tâm thần và thể chất, hội chứng cai khi ngừng uống, tăng khả năng dung nạp, suy đồi nhân cách và tổn thương thực tổn não bộ.
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán nghiện rượu theo ICD-10: Xác định khi người bệnh có từ 3 triệu chứng trở lên xuất hiện trong vòng 1 năm (thèm muốn mãnh liệt; khó kiểm soát việc ngừng hoặc giảm uống; có bằng chứng dung nạp tăng liều; sao nhãng các thú vui; tiếp tục sử dụng dù biết tác hại).
  • Phân loại tiến triển nghiện rượu: Gồm 3 giai đoạn lâm sàng: Giai đoạn I (giống suy nhược thần kinh, tăng dung nạp lên tới 500ml rượu 40 độ/ngày, mất phản xạ nôn); Giai đoạn II (xuất hiện hội chứng cai rõ rệt, dung nạp cực điểm 1500–2000ml/ngày, biến đổi nhân cách); Giai đoạn III (bệnh não thực tổn mạn tính, teo não trên hình ảnh CT Scanner/MRI, dung nạp giảm chỉ còn 150–200ml đã say).
  • Bệnh cảnh loạn thần do rượu: Các hội chứng chính gồm sảng rượu (tỷ lệ tử vong khoảng 20% nếu không điều trị kịp thời), ảo giác do rượu (ưu thế là ảo thanh thật mang tính đe dọa, xỉ nhục; ảo thị; ảo xúc), hoang tưởng do rượu (chủ yếu là hoang tưởng ghen tuông và hoang tưởng bị hại), cùng các bệnh não thực tổn mạn tính (hội chứng Korsakov, bệnh giả liệt do rượu, bệnh não Gayet-Wernicke).
  • Phác đồ can thiệp y học và điều dưỡng: Sử dụng thuốc giải độc (Unithiol 5%, dịch truyền ưu trương và đẳng trương), vitamin liều cao (nhóm B, B1 tiêm bắp/tĩnh mạch, vitamin C), thuốc an thần kinh (Haloperidol, Tisercin, Aminazin), thuốc bình thần (Diazepam/Seduxen), thuốc chống trầm cảm (Amitriptilin, Stablon, Prozac), liệu pháp gây phản xạ sợ rượu (Apomorphin, Disulfiram/Altabus). Quy trình chăm sóc điều dưỡng phân chia theo 3 giai đoạn: giải độc rượu cấp tính, ổn định và hồi phục.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Khảo sát toàn bộ mẫu thuận tiện gồm 30 người bệnh loạn thần do rượu đang điều trị nội trú tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu.
  • Công cụ và phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát cấu trúc gồm 3 phần chính (Phần A: Thông tin hành chính và nhân khẩu học; Phần B: Kiến thức và đặc điểm bệnh học; Phần C: Thực trạng tiếp nhận chăm sóc điều dưỡng) để phỏng vấn trực tiếp người bệnh kết hợp quan sát thực tế lâm sàng.

Nội dung chính theo từng chương

Đặc điểm của nghiện rượu và Loạn thần do rượu

Nội dung phần này hệ thống hóa toàn diện các y văn và nghiên cứu dịch tễ về tác hại của rượu:

  • Tác hại và hậu quả: Tác động trực tiếp gây tổn thương hệ tiêu hóa (viêm loét dạ dày tá tràng, viêm tụy, xơ gan), hệ thần kinh (teo não, tổn thương dẫn truyền), thiếu hụt protein và vitamin nhóm B. Về mặt xã hội, nghiện rượu chiếm 15% nguyên nhân tai nạn giao thông (theo Ades J., 1990 tại Pháp), 25% tai nạn gia đình, 19% tội ác và là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 toàn cầu theo WHO (sau bệnh tim mạch và ung thư).
  • Đặc điểm dịch tễ: Tỷ lệ nam/nữ dao động từ 4/1 đến 8/1; lứa tuổi hay gặp từ 30 tuổi trở lên (khoảng 70% dưới 40 tuổi, 90% dưới 50 tuổi). Nghề nghiệp tập trung ở công nhân (34,4%), nông dân (32,3%), lao động tự do (21,7%) theo nghiên cứu của Lý Trần Tình (2006). Thời gian uống rượu hình thành nghiện đa số kéo dài từ 10–15 năm (chiếm 60%).
  • Nguyên tắc điều trị và chăm sóc: Trình bày chi tiết các phác đồ y khoa cắt cơn cai rượu, kiểm soát kích động, điều trị sảng rượu và hồi phục chuyển hóa thần kinh. Đồng thời, xác lập vai trò của điều dưỡng viên qua 3 giai đoạn chăm sóc: bảo đảm an toàn tính mạng, theo dõi dấu hiệu sinh tồn, kiểm soát đường thở và tri giác trong giai đoạn giải độc; bảo đảm dinh dưỡng, điều trị bệnh phối hợp và nâng đỡ tâm lý trong giai đoạn ổn định; phối hợp cùng gia đình thực hiện liệu pháp lao động, thể dục, thư giãn và chống tái nghiện trong giai đoạn hồi phục.

Thực trạng chăm sóc người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định

Chương này phản ánh điều kiện thực tế của cơ sở nghiên cứu và kết quả khảo sát thực trạng trên 30 người bệnh:

  • Khái quát đơn vị: Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định thành lập ngày 14/02/1997, là bệnh viện chuyên khoa hạng III với trang thiết bị phục vụ chẩn đoán như máy lưu huyết não vi tính, máy điện não vi tính, máy siêu âm, máy xét nghiệm sinh hóa. Đội ngũ cán bộ gồm 4 thạc sĩ, 7 bác sĩ CKI, 6 bác sĩ chuyên khoa định hướng tâm thần, 6 bác sĩ đang học năm cuối, 1 dược sĩ đại học, 4 cử nhân điều dưỡng đại học, 12 điều dưỡng cao đẳng, 42 điều dưỡng trung cấp và 8 cán bộ đại học khác.
  • Thực trạng bệnh học tại viện: 100% đối tượng là nam giới; 60% có trình độ THCS; 83,3% đang có gia đình; 60% có thời gian nghiện rượu trên 20 năm; 40% uống từ 600–1000ml rượu/ngày; 80% nhập viện lần đầu; 76,6% có ảo giác; 93,3% có hoang tưởng (chủ yếu hoang tưởng ghen tuông và bị hại); 100% có rối loạn trí nhớ (90% giảm trí nhớ, 10% trí nhớ lộn xộn).
  • Thực trạng công tác chăm sóc:
    • Thực hiện y lệnh: 100% người bệnh được điều dưỡng cho uống thuốc đúng giờ, đúng liều lượng, đúng đường dùng và đồng ý phối hợp điều trị. Có 20% trường hợp gặp tác dụng phụ của thuốc (mất ngủ, chóng mặt, run tay chân).
    • Vấn đề dinh dưỡng và vệ sinh: 90% người bệnh tự túc bữa ăn ngoài viện hoặc do người nhà mang đến (chỉ 10% ăn theo khẩu phần bệnh viện); 30% người bệnh ăn kém, ăn không ngon miệng. Về vệ sinh cá nhân, 93,33% tự thực hiện được, 6,67% cần người nhà hỗ trợ hoàn toàn; nhân viên y tế chưa thể trực tiếp hỗ trợ vệ sinh cá nhân do quá tải công việc.
    • Hoạt động phục hồi chức năng và tâm lý: Bệnh viện có tổ chức các hoạt động thể thao (cầu lông, cờ vua, đá bóng), lao động nhẹ (quét dọn phòng bệnh, trồng cây xanh), tuy nhiên các hoạt động chưa phong phú và thiếu tính đều đặn; 70% người bệnh cảm nhận được sự quan tâm của nhân viên y tế và gia đình, trong khi 30% còn cảm giác cô đơn, lạnh lẽo, chưa được quan tâm chu đáo.

Đề xuất giải pháp cải thiện thực trạng chăm sóc người bệnh loạn thần do rượu tại bệnh viện tâm thần tỉnh Nam Định

Dựa trên các tồn tại ghi nhận từ thực tế, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chia theo hai nhóm đối tượng:

  • Đối với bệnh viện và nhân viên y tế:
    • Bổ sung nhân lực điều dưỡng để giảm tình trạng quá tải, nâng cao chất lượng chăm sóc toàn diện.
    • Lập kế hoạch chăm sóc cá thể hóa theo từng giai đoạn bệnh; quản lý chặt chẽ việc dùng thuốc; tăng cường phổ biến và giám sát nội quy khoa phòng.
    • Đẩy mạnh công tác giáo dục sức khỏe, tuyên truyền tác hại của rượu lên các cơ quan nội tạng (gan, tim mạch, tiêu hóa) và hệ thần kinh.
    • Mở rộng các hình thức phục hồi chức năng: Triển khai liệu pháp lao động phù hợp với điều kiện bệnh viện (đan lát, khâu vá, trồng rau); thúc đẩy tái thích ứng xã hội qua các giải thi đấu thể thao, các buổi sinh hoạt văn nghệ, tạo điều kiện cho người bệnh về thăm gia đình vào cuối tuần khi bệnh đã ổn định.
    • Tích cực đào tạo liên tục, tập huấn chuyên môn định kỳ và bồi dưỡng các kỹ năng hỗ trợ đời sống (như kỹ năng cắt tóc, tổ chức hoạt động nhóm) cho nhân viên y tế.
  • Đối với người bệnh và gia đình:
    • Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy bệnh viện; phối hợp cùng nhân viên y tế giám sát việc uống thuốc và phát hiện sớm các tác dụng phụ.
    • Gia đình cần đóng vai trò điểm tựa tâm lý, thường xuyên thăm hỏi, lắng nghe, tránh thái độ bỏ mặc hoặc kỳ thị khiến người bệnh rơi vào trầm cảm.
    • Nắm vững các yếu tố nguy cơ kích hoạt tái phát; hỗ trợ người bệnh duy trì lối sống lành mạnh, kiên quyết từ bỏ rượu bia và tạo việc làm ổn định sau khi xuất viện.

Kết quả và đóng góp

Kết quả khảo sát thực nghiệm

Khóa luận đã thu thập và xử lý các chỉ số dịch tễ, lâm sàng và thực trạng chăm sóc trên 30 người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định:

Tiêu chí khảo sát Phân loại chi tiết Số lượng (n=30) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam giới 30 100,0%
Nữ giới 0 0,0%
Trình độ học vấn Tiểu học 5 16,7%
Trung học cơ sở (THCS) 18 60,0%
Trung học phổ thông (THPT) 7 23,3%
Đại học / Sau đại học 0 0,0%
Tình trạng hôn nhân Có gia đình 25 83,3%
Ly hôn / Ly thân 5 16,7%
Độc thân 0 0,0%
Thời gian nghiện rượu 5 – 10 năm 1 3,3%
11 – 15 năm 2 6,7%
16 – 20 năm 9 30,0%
> 20 năm 18 60,0%
Số lượng rượu uống/ngày < 500 ml 1 3,3%
600 – 1000 ml 12 40,0%
Các mức khác (bao gồm >1000ml) 17 56,7%
Cảm giác thèm rượu Còn cảm giác thèm rượu 24 80,0%
Không còn cảm giác thèm rượu 6 20,0%
Mức độ thèm rượu (n=24) Thèm rượu mãnh liệt 14 / 16* 58,3%
Thường xuyên 4 16,7%
Thỉnh thoảng 4 16,7%
Ít 2 8,3%
Số lần nhập viện Vào viện lần đầu 24 80,0%
Tái nhập viện (vào từ lần 2 trở lên) 6 20,0%
Triệu chứng tâm thần Có xuất hiện hoang tưởng 28 93,3%
Có xuất hiện ảo giác 23 76,6%
Rối loạn trí nhớ (giảm trí nhớ 90%, lộn xộn 10%) 30 100,0%
Thực trạng chăm sóc y tế Uống thuốc đúng chỉ định y lệnh 30 100,0%
Tác dụng phụ khi dùng thuốc (mất ngủ, run, chóng mặt) 6 20,0%
Người bệnh tự thực hiện vệ sinh cá nhân 28 93,33%
Cảm nhận được sự quan tâm của NVYT & gia đình 21 70,0%

(Ghi chú: Số liệu phản ánh theo đúng bảng thống kê trong văn bản gốc của tác giả).

Đóng góp của khóa luận

  • Cung cấp bức tranh thực tế về đặc điểm nhân khẩu, bệnh lý và tâm lý của nhóm đối tượng người bệnh loạn thần do rượu điều trị tại tuyến tỉnh (Nam Định), chỉ ra đặc thù 100% bệnh nhân là nam giới, đa số nghiện rượu trên 20 năm và nhập viện lần đầu trong tình trạng loạn thần nặng (tỷ lệ hoang tưởng 93,3%, ảo giác 76,6%).
  • Nhận diện rõ các khoảng trống trong công tác điều dưỡng thực tế tại Bệnh viện Tâm thần Nam Định: nhân lực điều dưỡng thiếu hụt dẫn đến việc chưa lập được kế hoạch chăm sóc chi tiết theo từng giai đoạn; chưa tự đảm nhận được việc chăm sóc vệ sinh toàn diện cho bệnh nhân nặng; 90% bệnh nhân ăn ngoài viện; các hoạt động phục hồi chức năng và liệu pháp lao động chưa được triển khai định kỳ.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp can thiệp khả thi, gắn liền với năng lực thực tế của bệnh viện chuyên khoa hạng III, chú trọng vào liệu pháp tâm lý, phục hồi chức năng lao động (trồng rau, đan lát) và vai trò đồng hành của gia đình.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện với quy mô mẫu nhỏ (n = 30 người bệnh) và thời gian khảo sát ngắn (từ 02/05/2018 đến 20/05/2018) tại một cơ sở điều trị duy nhất (Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định). Các dữ liệu thu thập chủ yếu bằng phương pháp mô tả cắt ngang qua phỏng vấn trực tiếp, chưa thực hiện theo dõi dọc đánh giá hiệu quả sau can thiệp của các giải pháp chăm sóc đề xuất.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát trên cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều bệnh viện chuyên khoa tâm thần tuyến tỉnh; tiến hành các nghiên cứu can thiệp thử nghiệm lâm sàng đối chứng nhằm đánh giá định lượng hiệu quả của quy trình chăm sóc điều dưỡng toàn diện kết hợp liệu pháp lao động và tái thích ứng cộng đồng cho người bệnh loạn thần do rượu.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Điều dưỡng và Y đa khoa: Cung cấp tài liệu học tập thực tế về quy trình nhận định, lập kế hoạch chăm sóc và theo dõi người bệnh tâm thần có hội chứng phụ thuộc rượu, sảng rượu và các rối loạn tư duy, tri giác cấp tính.
  • Điều dưỡng viên lâm sàng tại các bệnh viện chuyên khoa tâm thần: Tham khảo cấu trúc bảng kiểm khảo sát và các gợi ý tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, liệu pháp lao động phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh.
  • Học viên, cán bộ y tế làm đề tài nghiên cứu liên quan: Cung cấp bộ số liệu thực trạng dịch tễ học và lâm sàng về loạn thần do rượu tại khu vực Nam Định năm 2018.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ xuất hiện các triệu chứng loạn thần chính (hoang tưởng, ảo giác, rối loạn trí nhớ) ở người bệnh trong nghiên cứu là bao nhiêu? Trong số 30 người bệnh khảo sát, có 93,3% người bệnh xuất hiện hoang tưởng (chủ yếu là hoang tưởng ghen tuông và hoang tưởng bị hại), 76,6% xuất hiện ảo giác (chủ yếu là ảo thanh và ảo thị), và 100% người bệnh ghi nhận có rối loạn trí nhớ (trong đó 90% bị giảm trí nhớ và 10% có trí nhớ lộn xộn, ngắt quãng).

2. Đặc điểm về thời gian nghiện rượu và lượng rượu tiêu thụ hàng ngày của các đối tượng khảo sát như thế nào? Đa số đối tượng có thời gian nghiện rượu kéo dài trên 20 năm (chiếm 60%), từ 16–20 năm chiếm 30%, từ 11–15 năm chiếm 6,7% và từ 5–10 năm chiếm 3,3% (không có trường hợp nào dưới 5 năm). Về lượng rượu uống hàng ngày, mức phổ biến nhất là từ 600–1000 ml/ngày (chiếm 40%).

3. Thực trạng chăm sóc dinh dưỡng và vệ sinh cá nhân cho người bệnh tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định diễn ra ra sao? Về dinh dưỡng, chỉ có 10% người bệnh ăn theo khẩu phần tại bệnh viện, 90% còn lại ăn tự túc ngoài viện hoặc do gia đình mang vào; có 30% người bệnh có biểu hiện chán ăn, ăn kém. Về vệ sinh cá nhân, 93,33% người bệnh tự thực hiện được, 6,67% cần người nhà hỗ trợ; nhân viên y tế chưa trực tiếp hỗ trợ phần việc này do áp lực khối lượng công việc và thiếu hụt nhân lực.

4. Khóa luận đề xuất những liệu pháp phục hồi chức năng cụ thể nào cho bệnh viện? Tác giả đề xuất đẩy mạnh liệu pháp lao động phù hợp với điều kiện thực tế của viện như đan lát, khâu vá, trồng rau; tổ chức các hoạt động thể dục thể thao (bóng bàn, bóng chuyền, bóng đá); tổ chức sinh hoạt văn nghệ, giao lưu xã hội bên ngoài và cho phép người bệnh về thăm gia đình vào dịp cuối tuần khi triệu chứng đã ổn định.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Phương Thảo đã phản ánh toàn diện thực trạng lâm sàng và công tác điều dưỡng trên 30 người bệnh loạn thần do rượu tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nam Định năm 2018. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính chất nghiêm trọng của bệnh với tỷ lệ cao về thời gian nghiện rượu kéo dài, biểu hiện hoang tưởng, ảo giác và suy giảm trí nhớ trầm trọng trên 100% bệnh nhân nam giới. Đồng thời, công trình chỉ rõ những bất cập về nhân lực và cơ sở vật chất trong chăm sóc toàn diện tại bệnh viện, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi kết hợp giữa can thiệp y tế, liệu pháp lao động và vai trò đồng hành của gia đình.