Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực trạng của ATBM thông tin trong HTTT của công ty TNHH Thương Mại và Xuất Nhập Khẩu ADT. Chương 3: Định hướng phát triển, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả ATBM thông tin trong HTTT tại công ty TNHH Thương Mại và Xuất Nhập Khẩu ADT. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG AN TOÀN THÔNG TIN CỦA CÔNG TY TNHH THƯƠNG MẠI VÀ XUẤT NHẬP KHẨU ADT 2.
Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm thông tin, HTTT, dữ liệu và CSDL Thông tin là điều hiểu biết về một sự kiện, một hiện tượng nào đó, thu nhận được qua khảo sát, đo lường, trao đổi, nghiên cứu… Thông tin là những dữ liệu đã được xử lý sao cho nó thực sự có ý nghĩa đối với người sử dụng. Thông tin được coi như một sản phẩm hoàn chỉnh thu được sau quá trình xử lý dữ liệu. Khái niệm hệ thống thông tin là một tập hợp và kết hợp của các phần cứng, phần mềm và các hệ mạng truyền thông được xây dựng và sử dụng để thu thập, tái tạo, phân phối và chia sẻ các dữ liệu, thông tin và tri thức nhằm phục vụ các mục tiêu của tổ chức.
Các tổ chức có thể sử dụng các hệ thống thông tin với nhiều mục đích khác nhau. Trong việc quản trị nội bộ, hệ thống thông tin sẽ giúp đạt được sự thông hiểu nội bộ, thống nhất hành động, duy trì sức mạnh của tổ chức, đạt được lợi thế cạnh tranh.Với bên ngoài, hệ thống thông tin giúp nắm bắt được nhiều thông tin về khách hàng hơn hoặc cải tiến dịch vụ, nâng cao sức cạnh tranh, tạo đà cho phát triển. Dữ liệu là các giá trị phản ánh về sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Nhưng là những giá trị thô, chưa có ý nghĩa với người sử dụng.
Dữ liệu có thể là một tập hợp các giá trị mà không biết được sự liên hệ giữa chúng. Dữ liệu qua quá trình xử lý, phân tích và đánh giá trở thành thông tin phục vụ cho các mục đích khác nhau của con người. Dữ liệu có thể biểu diễn dưới nhiều dạng khác nhau như âm thanh, văn bản, hình ảnh. Cơ sở dữ liệu: tập hợp dữ liệu tương quan có tổ chức được lưu trữ trên các phương tiện lưu trữ như đĩa từ, băng từ v.v nhằm thỏa mãn các yêu cầu khai thác thông tin (đồng thời) của nhiều người sử dụng và của nhiều chương trình ứng dụng.
Khái niệm an toàn và bảo mật CSDL Theo từ điển Tiếng Việt, an toàn có nghĩa là được bảo vệ, không xâm phạm. 9 Một hệ thống thông tin được coi là an toàn( security) khi thông tin không bị làm hỏng hóc,không bị sửa đổi, thay đổi, sao chép hoặc xóa bỏ bởi người không được phép. Một hệ thống thông tin an toàn thì các sự cố có thể xảy ra không thể làm cho hoạt động chủ yếu của nó ngừng hẳn và chúng sẽ được khắc phục kịp thời mà không gây thiệt hại đến mức độ nguy hiểm cho chủ sở hữu. Bảo mật là sự hạn chế khả năng lạm dụng tài nguyên và tài sản.
Bảo mật trở nên đặc biệt phức tạp trong quản lý, vận hành những hệ thống thông tin có sử dụng các công cụ tin học, nơi có thể xảy ra và lan tràn nhanh chóng việc lạm dụng tài nguyên (các thông tin di chuyển vô hình trên mạng hoặc lưu trữ hữu hình trong các vật liệu) và lạm dụng tài sản (các máy tính, thiết bị mạng, thiết bị ngoại vi, các phần mềm của cơ quan hoặc người sở hữu hệ thống). Bảo mật thông tin là duy trì tính bí mật, tính trọn vẹn và tính sẵn sàng của thông tin. + Bí mật nghĩa (Confidentially) là đảm bảo thông tin chỉ được tiếp cận bởi những người được cấp quyền tương ứng. + Tính trọn vẹn (Integrity) là bảo vệ sự chính xác hoàn chỉnh của thông tin và thông tin chỉ được thay đổi bởi những người được cấp quyền.
+ Tính sẵn sàng (Availabillity) của thông tin là những người được quyền sử dụng có thể truy xuất thông tin khi họ cần. Hệ thống được coi là bảo mật nếu tính riêng tư của nội dung thông tin được đảm bảo theo đúng các tiêu chí trong một thời gian xác định. Hai yếu tố an toàn và bảo mật đều rất quan trọng và gắn bó với nhau: hệ thống mất an toàn thì không bảo mật được và ngược lại hệ thống không bảo mật được thì mất an toàn Bảo mật CSDL chính là việc bảo về được thông tin trong CSDL tránh được những truy cập trái phép đến CSDL, từ đó có thể thay đổi hay suy diễn nội dung thông tin CSDL. Vai trò của an toàn bảo mật thông tin trong công ty: An toàn bảo mật thông tin có vai trò quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các công ty.
Đối với mỗi công ty, thông tin có thể coi là tài sản vô giá. 10 Rủi ro về thông tin có thể gây thất thoát tiền bạc, tài sản, con người và gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh sản xuất của công ty. Do vậy, đảm bảo ATTT công ty cũng có thể coi là một hoạt động quan trọng trong sự nghiệp phát triển của công ty 2. Một số lý thuyết về ATTT Tại buổi tọa đàm, các chuyên gia CNTT đã cùng nhau phân tích đánh giá về hàng loạt vụ tấn công có chủ đích nhằm vào các hệ thống có tên miền ".vn" gần đây.
Theo thống kê, có tới 40% số website tại Việt Nam đang tồn tại lỗ hổng an ninh mạng và trung bình mỗi tháng lại có hơn 300 Website của các doanh nghiệp, tổ chức trong nước bị tấn công, cứ 10 website thì có 1 website có thể bị tấn công. Đó chỉ là "bề nổi", còn thực tế số lượng lớn hơn rất nhiều. Thống kê của VNCERT thì cho thấy chỉ trong nửa đầu năm 2016, tổng số sự cố an ninh mạng được VNCERT ghi nhận đã là 127.630 sự cố (gồm 8.758 sự cố Phishing, 77.160 sự cố Deface và 41.712 sự cố Malware), gấp hơn 4 lần so tổng sự cố an ninh mạng được trung tâm này ghi nhận trong năm 2015 và gấp gần 6,5 lần số sự cố diễn ra trong năm 2014. Với thực trạng này, không chỉ người dùng, doanh nghiệp mà cả Chính phủ đã phải nhìn nhận vấn đề một cách nghiêm túc về vấn đề an toàn thông tin.
Tháng 7 vừa qua là tháng điển hình cho những vụ tấn công liên tiếp với quy mô lớn của nhóm hacker. Nghiêm trọng nhất là ngày 27/9, khi Vietnam Airlines đã bị tấn công thay đổi thông tin (Deface), dữ liệu của 400.000 khách hàng Bông Sen Vàng đã bị rò rỉ lên mạng. Đồng thời, những thông tin, hình ảnh ở hai sân bay lớn nhất của nước ta là Nội Bài và Tân Sơn Nhất cũng bị thay đổi bằng những hình ảnh, âm thanh xuyên tạc về Biển Đông. Chỉ trong một tháng gần 10 vụ mất tiền trong tài khoản tại các ngân hàng khác nhau.
Sự việc đặc biệt nghiêm trọng khi một khách hàng của Vietcombank đã bị rút mất 500 triệu chỉ trong 1 đêm. Qua thực trạng trên cho thấy , các nhóm hacker ngày càng được nâng cao về trình độ, kỹ năng tấn công. Trong khi đó, sự non nớt của các doanh nghiệp, sự thiếu hụt trong quản trị nhân lực CNTT cao cấp và chủ quan trước những cảnh báo về bảo mật. Đó là những lí do chính dẫn đến việc các website bị tấn công trong thời gian qua.
a) Các nguy cơ mất an toàn thông tin: Xét theo nguyên nhân, có thể chia nguy cơ mất ATTT thành 2 loại: Nguy cơ ngẫu nhiên 11 Nguy cơ mất ATTT ngẫu nhiên có thể xuất phát từ các hiện tượng khách quan như thiên tai (lũ lụt, sóng thần, động đất…), hỏng vật lý, mất điện…Đây là những nguyên khách quan, khó dự đoán trước, khó tránh được nhưng đó lại không phải là nguy cơ chính của việc mất ATTT. Nguy cơ có chủ định Cùng với sự phát triển của xã hội, sự bùng nổ CNTT, thì nguy cơ mất ATTT cũng ngày càng gia tăng. Nguy cơ mất ATTT ở Việt Nam đang tăng lên khi chúng ta đang đứng trong nhóm những nước có nguy cơ mất ATTT cao nhất. Theo đánh giá của các chuyên gia, tội phạm công nghệ cao đang gia tăng với xu hướng có tính quốc tế rõ rệt, việc tấn công cơ sở dữ liệu của các cơ quan nhà nước, e-banking, các công ty thương mại điện tử liên tục xảy ra.
Ngoài ra, số lượng lớn các vụ tấn công gây thiệt hại về kinh tế nhưng rất khó ước tính cũng trở thành mối đe doạ cho sự cạnh tranh, phát triển của nền kinh tế. Tại Việt Nam, báo cáo toàn cầu từ hãng bảo mật Kaspersky Lab cho thấy, Việt Nam đứng thứ 3 trên toàn thế giới về sự nguy hiểm tiềm ẩn khi lướt web với 35% số người dùng đã bị tấn công. Chia sẻ với PV Báo CAND về các nguy cơ và xu thế tấn công mạng trong năm 2016, Đại tá Nguyễn Ngọc Cương, Phó Cục trưởng Cục CNTT, Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật, Bộ Công an cho biết: Một hình thức tấn công mới nguy hiểm đang có chiều hướng gia tăng trong năm 2016 là tấn công dựa trên các thiết bị phần cứng. Mới đây, Equation Group phát hiện chương trình mã độc cài trong các USB flash để tiến hành giám sát mục tiêu.
Nguy hiểm là các sâu này không thể loại bỏ kể cả khi định dạng lại ổ đĩa. Ngoài USB, mã độc còn được cài sẵn trong BIOS của máy tính, cài sẵn mã theo dõi trong các chương trình tiện tích riêng của hãng máy tính; cài sẵn mã trong các firrmware của thiết bị hoặc tích hợp mã độc trên IC. Tại Việt Nam, năm 2015 cũng đã rung động bởi sự việc các máy tính và thiết bị xuất xứ từ Trung Quốc đã được cài sẵn các mã độc để đánh cắp thông tin và theo dõi hành vi người dùng. Xu hướng tấn công này được dự báo sẽ tiếp tục tăng trong năm 2016 khi mà đa phần các hệ thống CNTT, thiết bị máy tính, điện thoại của Việt Nam đều được nhập khẩu từ nước ngoài.Trên đây là các nguy cơ đến từ môi trường bên ngoài doanh nghiệp.
12 Trên thực tế, vấn đề ATTT của công ty còn luôn phải đối mặt với các nguy cơ xuất phát từ chính nội tại công ty như: nguy cơ do yếu tố kĩ thuật (thiết bị mạng, máy chủ, HTTT…) nguy cơ do lập kế hoạch, triển khai, thực thi, vận hành, nguy cơ trong quy trình, chính sách an ninh bảo mật, nguy cơ do yếu tố con người (vận hành, đạo đức nghề nghiệp).