Chương 1: Lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt. khoản thì tiền chỉ chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của người khác, từ tài khoản của doanh nghiệp này sang tài khoản của doanh nghiệp khác, từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, tiền vẫn nằm trong hệ thống ngân hàng thì tôn thất tài sản Nhà nước và tốn thất tài sản của người dân sẽ được hạn chế. Một khi tiền được luân chuyên khép kín trong hệ thống ngân hàng thì mỗi cá nhân không phải để quá nhiều TM, có thể hạn chế được tình trạng cướp giật, trộm cắp tiền, như vậy sẽ an toàn hơn, những tốn thất vẻ tài sản sẽ phan nao duoc han chế. Đối với việc TTKDTM sẽ giúp gia tăng tính minh bạch trong hoạt động xã hội, đặc biệt trong các dự án của Nhà nước sẽ tránh được tình trạng bòn rút công trình, tham ô tham những gây tốn that cho tài sản của Nhà nước.
Bên cạnh đó, những khoản thu chi đối với mỗi doanh nghiệp hay cá nhân sẽ được quản lý chặt chẽ, rõ ràng, giúp cho nhà nước không bị thất thu từ việc thu thuế. Như vậy, trên cơ sở tài khoản tiền gửi và các tài khoản thanh toán được thực hiện qua ngân hàng đã giúp doanh nghiệp và cơ quan quản lý như bộ chủ quản, cơ quan thuế có điều kiện để kiểm tra theo đối doanh thu, chỉ phí, xác định kết quả kinh doanh chính xác. Do đó, hạn chế các hoạt động “kinh tế ngầm”, kiểm soát các hoạt động giao dịch kinh té, giam thiểu các tác động tiêu cực của các hoạt động “kinh tế ngầm”, tăng cường tính chủ đạo của Nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và điều hành các chính sách kinh tế tài chính quốc gia, góp phần lành mạnh hóa nên kinh tê, xã hội.2 Những quy định mang tính nguyên tắt trong TTKDTM: Luật Ngân hàng Nhà nước (điều 35) qui định: Ngân hàng Nhà nước tổ chức hệ thống TTKDTM, tổ chức thanh toán liên ngân hàng và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Ngân hàng Nhà nước phải thực hiện đầy đủ kịp thời các giao dịch thanh toán bằng tiền mặt và TTKDTM theo yêu cầu của chủ tài khoản.
Điều 66 Luật các Tổ chức Tín dụng qui định: TCTD là ngân hàng được thực hiện các giao dịch thanh toán với tổ chức kinh tế và cá nhân có tài khoản tại TCTD. TCTD được cung cấp các phương tiện thanh toán, thực hiện dịch vụ thanh toán -13- Chương 1: Lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt. trong nước cho khách hàng và làm dịch vụ thanh toán Quốc té ( khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép).1 —- Quy định chung: Các doanh nghiệp, cơ quan đoàn thể, đơn vị vũ trang, công dân Việt nam và người nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt nam được quyền lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán. Như vậy, trước đây các doanh nghiệp, cá nhân chỉ được phép mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng nơi địa phương mình đóng trụ sở chính, hiện nay khách hàng có quyền lựa chọn ngân hàng để mở tài khoản giao dịch đem đến cho họ sự tiện lợi nhất về thanh toán.
Đồng thời, quy định này còn tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng trong việc nâng cao chất lượng phục vụ dịch vụ thanh toán nhăm thu hút khách hàng.2— Quy định đối với khách hàng: 1.1 Khách hàng bên trả tiền: Để đảm bảo thực hiện các khoản thanh toán đầy đủ, nhanh chóng, chủ tài khoản (bên trả tiền) phải luôn có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán, chủ tài khoản có toàn quyền sử dụng số tiền trên tài khoản để chỉ trả cho người thụ hưởng hoặc rút tiền mặt. Chủ tài khoản chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc chỉ trả số tiền trên tài khoản tiền gửi của mình. Nếu không thực hiện đúng nguyên tắc quy định thì chủ tai khoản phải chịu phạt theo quy định của NHNN, TCTD. Thực hiện đầy đủ, đúng các quy định về mở và sử dụng tài khoản, giấy tờ thanh toán theo mẫu ¡in sẵn do ngân hàng in ấn nhượng bán.
Khi lập chứng từ phải ghi chép đầy đủ các yếu tố, chữ ký và con dấu trên chứng từ phải đúng với chữ ký và con dấu đã đăng ký tại ngân hàng. Mọi trường hợp vi phạm kỷ luật thanh toán, quản lý giấy tờ thanh toán không chặt chẽ bị kẻ gian lợi dụng, chủ tài khoản phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi thiệt hại do đơn vi gây ra. -14- Chương 1: Lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt.2 Đơn vị bên bán (bên thụ hưởng) Bên thụ hưởng phải giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ đầy đủ theo đúng hợp đồng đã ký kết, lập giấy đòi tiền theo đúng thể thức đã thỏa thuận ghi trong hợp đồng, kiểm soát chặt chẽ các chứng từ và nộp chứng từ thanh toán vào ngân hàng phục vụ mình đúng thời gian quy định. Nếu vi phạm điều khoản ghi trong hợp đồng về chứng từ đều không có giá trị thanh toán.
Khi thanh toán qua tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán, người sử dụng dịch vụ thanh toán (khách hàng) phải tuân thủ những quy định hướng dẫn của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán về việc lập chứng từ thanh toán, phương thức nộp, lĩnh tiền ở tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Quy định đối với ngân hàng Ngân hàng có trách nhiệm thực hiện các ủy nhiệm thanh toán của chủ tài khoản, đảm bảo chính xác an toàn, thuận tiện. Các ngân hàng có trách nhiệm chi trả băng TM hoặc chuyển khoản trong phạm vi số dư tiền gửi theo yêu cầu của chủ tài khoản. Trừ trường hợp chủ tài khoản vi phạm kỷ luật chi trả hoặc vi phạm pháp luật buộc phải thanh toán thì ngân hàng được quyền trích tài khoản tiền gửi của chủ tài khoản để thực hiện việc thanh toán đó theo biên bản của cơ quan có thấm quyên.
Tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán phải kiểm soát các chứng từ thanh toán của khách hàng trước khi hạch toán và thanh toán, đảm bảo lập đúng thủ tục quy định, dấu chữ ký đúng mẫu đã đăng ký với ngân hàng và chữ ký trên chứng từ thanh toán đúng với mẫu đăng ký tại ngân hàng (nếu là chữ ký tay) hoặc đúng với chữ ký điện tử do ngân hàng cấp (nếu là chữ ký điện tử); khả năng thanh toán của khách hàng còn đủ để chỉ trả số tiền trên chứng từ. Đối với chứng từ hợp lệ, được bảo đảm khả năng thanh toán, ngân hàng có trách nhiệm xử lý chính xác, an toàn, thuận tiện; sử dụng tài khoản kế toán thích hợp để hạch toán các giao dịch thanh toán và giữ bí mật về số dư trên tài khoản cho -15- Chương 1: Lý luận cơ bản về thanh toán không dùng tiền mặt. chủ tài khoản biết, gửi giấy báo Nợ và Có cho khách, hàng tháng phải đối chiếu số dư trên tài khoản với số mà khách hàng ký xác nhận với ngân hàng. Ngân hàng được quyền từ chối thanh toán khi chứng từ thanh toán không hợp lệ, không đảm bảo được khả năng thanh toán, đồng thời không chịu trách nhiệm về những nội dung liên đới của hai bên khách hàng.
Trên đây là những quy định cụ thể về quyền và trách nhiệm của các chủ thé tham gia trong quan hé TTKDTM. Tuy timg hinh thức thanh toán mà trách nhiệm của các bên được quy định cụ thê khác nhau.3 Các thể thức TTKDTM hiện hành: 1.1 Thanh toán bằng Séc: Theo Điều 4 Nghị định của Chính phủ số 159/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2003 ban hành quy chế cung ứng và sử dụng séc : “Séc là phương tiện thanh toán đo người ký phát lập dưới hình thức chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng phù hợp với quy định của Nghị định này”. Séc là công cụ thanh toán ra đời khá sớm và được sử dụng khá phổ biến, được dùng cho cá nhân. Séc thông thường được áp dụng theo nguyên tắc ghi nợ trước, ghi có sau.
Theo quy định, đơn vị phát hành séc chỉ được phép phát hành séc trong phạm vi số dư tiền gửi của mình. Phải chấp hành các thủ tục quy định vé séc, chịu phạt khi phát hành quá số đư. Mặc dù đã ra đời từ rất sớm và ngày càng có nhiều công cụ thanh toán hiện đại nhưng thanh toán băng séc vẫn giữ vị trí quan trọng trong các hình thức TKDTM. Séc là loại chứng từ thanh toán được áp dụng rộng rãi ở tât cả các nước trên thế giới, quy định sử dụng séc đã được chuẩn hoá trên Công ước quốc tế (1933) -16- Chương 1: Lý luận cơ bản về thanh toản không dùng tiên mặt.
Séc được sử dụng để thanh toán tiền hàng, dịch vụ, nộp thuế, trả nợ. hoặc được dùng để rút tiền mặt tại các chi nhánh ngân hàng. Tắt cả các khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng đều có quyền sử dụng séc để thanh toán. Hiện nay, có rât nhiêu loại séc khác nhau tùy vào cách phân loại, nhưng chủ yêu được sử dụng là các loại séc như séc tiên mặt, séc chuyên khoản, séc bảo chi va séc du khách.
Trong đó, séc du khách là một hình thức thanh toán rât tiện lợi đôi với khách hàng khi ra nước ngoài. Thanh toán bằng Ủy nhiệm chỉ (UNC) hoặc lệnh chỉ: UNC là lệnh chỉ tiền được chủ tài khoản lập theo mẫu của ngân hàng ấn hành, yêu cầu ngân hàng trích tài khoản của mình để chỉ trả cho bên thụ hưởng. UNC ra đời từ khá sớm, cùng với tiến bộ khoa học kỹ thuật, nó được sử dụng ngày một rộng rãi với các ưu thế nổi bật: an toàn, hiệu quả và đặc biệt thuận tiện dưới sự trợ giúp của các thành tựu phát triển trong lĩnh vực công nghệ tin học (NC có thể được xử lý đưới dạng các chứng từ điện tử). Vì vậy, hiện nay UNC được sử dụng rất nhiều trong thanh toán thương mại.
UNC thường dùng để thanh toán tiền mua bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ, hoặc nộp thuế, thanh toán nợ. Ở đây điều kiện sử dụng UNC là: Người bán hoàn toàn tín nhiệm người mua về phương diện thanh toán, và cho phép người mua khi nhận hàng rồi mới thanh toán, sự tin tưởng được thể hiện ở cả số tiền và thời hạn thanh toán. Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu (UNT)hay nhờ thu: UNT là nghiệp vụ thu tiền, mà trong đó người bán ủy thác cho ngân hàng thu một khoản tiền ở người mua theo hợp đồng mà người mua và bán đã ký.