CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 1. Tổng quan về hoạt động của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 1. Khái niệm về doanh nghiệp FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment) có thể hiểu dưới các góc nhìn khác nhau. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF- International Money Fund) thì FDI : “Đầu tư trực tiếp nhằm đạt được quyền lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trong một nền kinh tế khác với nền kinh tế nhà đầu tư”.
Định nghĩa này chỉ “ nghiêng” về quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài, không quan tâm đến lợi ích của nước chủ nhà tiếp nhận đầu tư. Còn theo cách hiểu theo Luật đầu tư của Việt Nam thì đầu tư nước ngoài (ĐTNN) - là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận. Theo Điều 3 của Luật Đầu tư: “ Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Doanh nghiệp FDI) là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn của bên nước ngoài góp là bao nhiêu.
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài bao gồm: - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. - Doanh nghiệp liên doanh giữa nước ngoài và các đối tác trong nước. Khái lược quá trình phát triển của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 1. Các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu thực hiện từ những năm 1980 theo các hiệp định song phương giữa Chính Phủ Việt Nam với Chính Phủ Liên Xô 123doc -4- và các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó.
Hình thức đầu tư chủ yếu được thực hiện bằng các liên doanh thăm dò và khai thác dầu khí, trồng cao su. Ngày 29/12/1987, Luật đầu tư trực tiếp của nước ngoài được Quốc hội thông qua. Từ thời điểm này, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài chính thức được triển khai hoạt động rộng rãi và phát triển nhanh chóng. Đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được nhìn nhận như là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế và là một trong những “trụ cột” tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Nhờ có sự đóng góp quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua và được biết đến là quốc gia phát triển năng động, đổi mới, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Có thể phân chia các giai đoạn phát triển của doanh nghiệp FDI như sau: - Từ năm 1986 trở về trước: Nền kinh tế nước ta chưa có khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. - Giai đoạn 1986 -1990: Khu vực FDI được hình thành và bắt đầu tham gia hoạt động trong một số ít ngành công nghiệp như: thăm dò và khai thác dầu khí, sản xuất bánh kẹo, may mặc. - Giai đoạn từ 1990 đến nay: Khu vực FDI trở thành bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân.
Một số yếu tố đánh giá quá trình và quy mô phát triển của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam: - Số doanh nghiệp FDI Biểu đồ 1.1: Số lượng doanh nghiệp FDI tại Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2007 4.000 Số doanh nghiệp FDI 2.000 0 2004 2005 2006 2007 (Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt năm 2008) 123doc -5- Số doanh nghiệp FDI ngày càng tăng qua các năm. Năm 2007, số doanh nghiệp FDI là 4.961 doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, gồm 4. Phần còn lại 943 doanh nghiệp là doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài. - Số vốn đầu tư Vốn đầu tư và vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI tăng mạnh qua các năm.
Năm 2004, vốn đầu tư là 41,3 nghìn tỷ VND. Vốn đầu tư tăng nhẹ vào 2 năm kế tiếp: năm 2005 (51,1 nghìn tỷ VND) và năm 2006 (65,5 nghìn tỷ VND). Số vốn đầu tư FDI từ năm 2007 tăng mạnh, đạt 129,4 nghìn tỷ VND năm 2007 và 192,4 nghìn tỷ VND vào năm 2008. Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của khu vực FDI 414,8 nghìn tỷ VND trong năm 2004.
Sau 3 năm, con số này gấp 1,8 lần, đạt 758,7 nghìn tỷ đồng vào năm 2007. - Ngành nghề hoạt động Xét về số dự án đầu tư FDI và số vốn đầu tư đăng ký, lĩnh vực công nghiệp chế biến là nơi thu hút vốn nhiều nhất. Trong giai đoạn từ 1988 đến 2007, tổng số dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực này là 6.323 dự án với tổng số vốn đăng ký trên 52 tỷ USD. Kế tiếp có thể kể đến là lĩnh vực hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn với 1.341 dự án và vốn đầu tư đăng ký khoảng 14 tỷ USD.
Tính chung hai lĩnh vực này chiếm 78% tổng số dự án đầu tư và 66% vốn đầu tư đăng ký. Năm 2008, vốn FDI đăng ký tiếp tục tập trung vào lĩnh vực công nghiệp - xây dựng, chiếm 56,7%, tiếp đến là dịch vụ 41,8%, còn lại là lĩnh vực nông, lâm ngư nghiệp còn đạt tỷ lệ thấp. - Địa bàn hoạt động Trong giai đoạn từ năm 1988 đến 2007, khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng là nơi thu hút nhiều nguồn vốn FDI nhất cả về số lượng dự án lẫn số vốn đầu tư. Trong giai đoạn này, số dự đầu tư vào hai khu vực này là 8.912 dự án với tổng số vốn đăng ký khoảng 77 tỷ USD, chiếm gần 84% tổng số dự án và 78% tổng số vốn đầu tư đăng ký của cả nước.
123doc -6- Năm 2008, Bắc trung bộ và duyên hải miền trung là nơi thu hút nhiều vốn đầu tư nhất với tổng số vốn đăng ký 32,9 tỷ USD, gấp 3 lần tổng vốn đầu tư trước đó. Khu vực Đông Nam Bộ vẫn thu hút FDI mạnh, dẫn đầu cả nước về tổng số dự án và xếp thứ hai về tổng vốn đầu tư với 611 dự án và 21,5 tỷ USD.1 : Số dự án đầu tư và số vốn đăng ký phân theo địa phương 1988- 2007 2008 Địa bàn Số dự Số vốn đăng ký Số dự Số vốn đăng ký án (Triệu USD) án (Triệu USD) Đồng bằng sông Hồng 2.336 Trung du và miền núi phía bắc 447 3.169 25 217 Bắc trung bộ và duyên hải miền trung 559 10.184 19 151 Đông Nam Bộ 5.516 Đồng bằng sông Cửu Long 425 4.011 (Nguồn: Niên giám thống kê năm 2007, niên giám thống kê tóm tắt năm 2008) - Số lao động Số lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI ngày càng tăng. Năm 2008, số lao động này khoảng 1,6 triệu lao động, gấp 1,7 lần 5 năm trước đó. Số lao động bình quân trên doanh nghiệp FDI khá ổn định qua các năm, giao động ở mức 300 lao động/doanh nghiệp.2: Tổng số lao động và số lao động bình quân trong các doanh nghiệp FDI Năm 2004 2005 2006 2007 2008 Chỉ tiêu Tổng số lao động (Nghìn người) 953 1.674 Số lao động bình quân/doanh nghiệp (người) 302 306 316 315 (Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt năm 2008) - Tài sản cố định và đầu tư dài hạn Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn tại khu vực FDI tăng dần qua các năm về con số tuyệt đối.
Năm 2004, giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn tại khu vực 123doc -7- này là 237 nghìn tỷ đồng, con số này lần lượt là 270 nghìn tỷ đồng, 337 nghìn tỷ đồng và 390 nghìn tỷ đồng trong năm 2005, năm 2006 và năm 2007. Tuy nhiên, xét về tốc độ cho thấy tốc độ tăng giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn tại khu vực FDI năm 2006 cao hơn năm 2005 (25% của năm 2006 so với 14% của năm 2005) nhưng sang năm 2007 giảm lại chỉ còn 16%.2: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp FDI 390 400 337 270 300 237 200 100 0 2004 2005 2006 2007 Giá trị TSCĐ và ĐT dài hạn (Nghìn tỷ VND) (Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt năm 2008) - Doanh thu thuần Bảng 1.3: Doanh thu thuần của các doanh nghiệp FDI Năm 2004 2005 2006 2007 Chỉ tiêu Tổng doanh thu thuần (Nghìn tỷ đồng) 374 468 597 736 Tốc độ tăng doanh thu 25% 28% 23% Doanh thu bình quân (Tỷ đồng) 119 127 141 148 (Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt năm 2008) Doanh thu thuần của khu vực FDI phát triển qua các năm với tốc độ khá ổn định khoảng 25%. Doanh thu thuần bình quân tính trên doanh nghiệp cũng tăng lên. Sang năm 2008, doanh thu khu vực này đạt 50,5 tỷ USD (tương đương khoảng 858 nghìn tỷ VND).
Tốc độ tăng doanh thu đạt 17%. Như vậy, doanh nghiệp FDI ngày càng phát triển tại Việt Nam trong những năm gần đây. Thể hiện ở số lượng doanh nghiệp, vốn đầu tư, số lao động làm việc, giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn, doanh thu thuần ngày càng tăng. Trong đó, khu vực Đông Nam Bộ vẫn dẫn đầu cả nước về thu hút đầu tư nước ngoài.
Lĩnh vực 123doc -8- thu hút nhiều vốn đầu tư nhất đó là công nghiệp chế biến và các hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn. Vai trò của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam 1. Giúp tăng cường nguồn vốn cho tăng trưởng. Nguồn vốn FDI ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng vốn đầu tư của nền kinh tế.
Tỷ trọng vốn FDI tính trên tổng vốn đầu tư ngày càng tăng. Trong giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2006, vốn FDI chỉ chiếm khoảng 14% đến 16% tổng vốn đầu tư. Sang năm 2007, tỷ trọng này tăng lên mức 27,4% và đạt 34,7% trong năm 2008.