Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DỊCH VỤ 1.1 Khái niệm về marketing 1.1 Khái niệm Trải qua một quá trình hình thành và phát triển, marketing đã và đang đóng góp vai trò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đã chính thức ký kết để xác thực lời văn Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) tại Aucland, New Zealand ngày 04/02/2016. Mặc dù marketing đã xuất hiện từ rất lâu đời, nhưng khái niệm về marketing mới xuất hiện từ đầu thế kỷ XX. Hiện tại, vẫn tồn tại rất nhiều khái niệm trên thế giới cũng như tại Việt Nam về marketing: Theo Hiệp hội Marketing Mỹ - AMA (1985): “Marketing là một quá trình lập ra kế hoạch và thực hiện các chính sách sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh của hàng hóa, ý tưởng hay dịch vụ để tiến hành hoạt động trao đổi nhằm thỏa mãn mục đích của các tổ chức và cá nhân”. Marketing là quá trình thực hiện các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức thông qua việc đoán trước các nhu cầu của khách hàng hoặc người tiêu thụ để điều khiển các dòng hàng hóa dịch vụ thỏa mãn các nhu cầu từ nhà sản xuất tới khách hàng hoặc người tiêu thụ (McCarthy, 1960).
Gronroos (1994) cho rằng marketing đã chuyển từ marketing mix sang marketing quan hệ: “Marketing là quá trình thiết lập, duy trì, và củng cố các mối quan hệ với khách hàng và các đối tác có liên quan để thỏa mãn mục tiêu của các thành viên trong mối quan hệ này”. Kotler (2008) định nghĩa marketing là quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. Drucker (2011) cho rằng: “Mục đích của marketing là làm sao để biết và hiểu khách hàng thật tốt sao cho sản phẩm hoặc dịch vụ thích hợp nhất với người đó, và tự nó sẽ bán được nó. Lý tưởng nhất, marketing nên là kết quả từ sự sẵn sàng mua 123doc 5 sắm.
Từ đó, việc hình thành nên sản phẩm hoặc dịch vụ mới trở nên cần thiết để tạo ra chúng”. Từ tất cả các định nghĩa trên có thể hiểu marketing là quá trình tìm ra nhu cầu và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp để đáp ứng đúng nhu cầu của thị trường thông qua mối quan hệ tương tác giữa sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp với nhu cầu của khách hàng, đối thủ cạnh tranh. Marketing kích thích sự nghiên cứu, cải tiến chất lượng sản phẩm, dịch vụ để đáp ứng đúng nhu cầu khách hàng và qua đó đóng góp vào lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.2 Vai trò Marketing có vai trò là cầu nối trung gian giữa hoạt động của doanh nghiệp và thị trường, đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp hướng đến thị trường và lấy thị trường làm mục tiêu kinh doanh.2 Khái niệm về dịch vụ 1.1 Khái niệm Nghiên cứu về dịch vụ có nhiều khái niệm được các tác giả đưa ra nhưng chưa có một khái niệm chung nhất về dịch vụ.al (2008) định nghĩa: “dịch vụ là biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình, không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”.
Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Trên giác độ hàng hóa, dịch vụ là hàng hóa vô hình mang lại chuỗi giá trị thỏa mãn một nhu cầu nào đó của thị trường (Lưu Văn Nghiêm, 2008). Ngày nay, dịch vụ được hiểu một cách khái quát và hàm nghĩa rộng hơn đó là toàn bộ các hoạt động giao tế giữa khách hàng với mọi phòng ban và mọi thành viên của công ty, ở đó các thành viên của công ty tham gia vào quá trình cung cấp 123doc 6 dịch vụ và tạo nên lợi ích cho khách hàng chứ không chỉ là một chức năng kỹ thuật để chăm sóc khách hàng sau bán hàng nữa.2 Đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ có những đặc điểm để dùng phân biệt hàng hóa và dịch vụ như sau: - Dịch vụ không hiện hữu: dịch vụ là vô hình và không tồn tại dưới dạng vật thể.
- Dịch vụ không đồng nhất: dịch vụ vô hình ở đầu ra nên không thể đo lường và quy chuẩn hóa được. Ngoài ra, dịch vụ không đồng nhất do dịch vụ được bao quanh môi trường vật chất hay thay đổi. - Dịch vụ không tách rời: sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối chúng. - Sản phẩm dịch vụ không tồn trữ: quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời.
Sản phẩm dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ và không thể vận chuyển từ khu vực này sang khu vực khác. - Dịch vụ có đặc điểm không chuyển quyền sở hữu được: khi mua dịch vụ, khách hàng chỉ được quyền sử dụng và hưởng lợi ích từ dịch vụ mang lại trong một khoảng thời gian nhất định. Năm đặc tính trên là chung nhất cho các loại dịch vụ, mức độ biểu hiện các đặc tính đó sẽ khác nhau đối với từng loại dịch vụ.3 Phân loại dịch vụ Có một số cách phân loại thường được sử dụng như sau: - Phân loại theo phương pháp loại trừ: dịch vụ là một bộ phận của nền kinh tế ngoài công nghiệp sản xuất hàng hóa hiện hữu, nông nghiệp và khai khoáng. Bất cứ loại nào không thuộc ba ngành trên đều thuộc dịch vụ.
- Phân loại theo mức độ liên hệ với khách hàng: tùy theo sự khác nhau về mức độ liên hệ khách hàng cao hay thấp để phân loại. - Phân loại theo các mảng dịch vụ: dựa vào các đặc tính riêng biệt của từng loại dịch vụ, phân thành các mảng khác nhau. Một số dịch vụ thỏa mãn một số đặc tính sẽ hình thành mảng riêng. Ví dụ như ma trận sau: 123doc 7 Bảng 1.1: Phân loại dịch vụ theo mảng có cùng đặc tính Khả năng tiêu dùng dịch vụ Phương thức chuyển giao Đơn vị trí Đa vị trí - Quán cafe Khách đến nơi - Nhà hàng ăn - Sửa laptop cung ứng dịch vụ - Bệnh viện Ảnh hưởng tổ Dịch vụ đến với - Osin - Thư tín chức, khách khách - Taxi hàng/dịch vụ - Trạm phát Cả hai cùng đến - Thẻ tín dụng hành với nhau - Du lịch (Nguồn: Lưu Văn Nghiêm, 2008) 1.4 Dịch vụ ăn uống 1.1 Khái niệm về dịch vụ ăn uống Dịch vụ ăn uống theo hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam được Thủ Tướng Chính Phủ quy định ngày 23/01/2007 với mã số 56 được hiểu như sau: dịch vụ ăn uống là cung cấp dịch vụ ăn, uống cho khách hàng tại chỗ trong đó khách hàng được phục vụ hoặc tự phục vụ, khách hàng mua đồ ăn uống mang về hoặc khách hàng đứng ăn tại nơi bán.2 Phân loại dịch vụ ăn uống Theo hệ thống ngành nghề kinh tế Việt Nam quy định dịch vụ ăn uống được mã hóa ngành là 56 (Phụ lục 1).
Cụ thể dịch vụ ăn uống được phân loại như sau: - Nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động. Bao gồm: hoạt động cung cấp dịch vụ ăn uống tới khách hàng, trong đó khách hàng được phục vụ hoặc khách hàng tự chọn các món ăn được bày sẵn, có thể ăn tại chỗ hoặc mua món ăn đem về. Cung cấp dịch vụ ăn uống theo hợp đồng không thường xuyên và dịch vụ ăn uống khác. Cung cấp dịch vụ ăn uống theo hợp đồng không thường xuyên với khách hàng (phục vụ tiệc, hội họp, đám cưới…).
123doc 8 Dịch vụ ăn uống khác: nhóm này cung cấp dịch vụ ăn uống theo hợp đồng với khách hàng, trong khoảng thời gian cụ thể. - Dịch vụ phục vụ đồ uống. Nhóm này gồm: hoạt động chế biến và phục vụ đồ uống cho khách hàng tiêu dùng tại chỗ. Do đó, dịch vụ suất ăn công nghiệp được xếp loại vào dịch vụ ăn uống khác.5 Dịch vụ suất ăn công nghiệp 1.1 Khái niệm suất ăn công nghiệp Ngày nay, các doanh nghiệp với số lượng nhân công lớn xuất hiện ngày càng nhiều, suất ăn công nghiệp trở thành khái niệm đang dần phổ biến.
Jones (2012) cho rằng suất ăn công nghiệp là những suất ăn với số lượng lớn, được hoàn thành trong thời gian ngắn, để phục vụ nhiều người cùng một lúc, thường có giá thành rẻ, phục vụ theo hợp đồng trong thời gian cụ thể. Suất ăn công nghiệp được sản xuất từ các bếp công nghiệp, là loại bếp công suất cao, để phục vụ đồ ăn chuyên nghiệp.2 Các hình thức của dịch vụ suất ăn công nghiệp - Sơ chế, chế biến tại địa điểm của công ty và mang đi phục vụ tại địa điểm của khách hàng. - Sơ chế, chế biến và phục vụ tại địa điểm của khách hàng: nhà ăn của khách hàng được xây dựng theo quy trình một chiều, đồng thời trang bị đầy đủ thiết bị và công cụ, dụng cụ cần thiết để các đơn vị cung cấp dịch vụ suất ăn công nghiệp có thể sơ chế, chế biến và phục vụ ngay tại chỗ.3 Đặc điểm của dịch vụ suất ăn công nghiệp Đối với ngành suất ăn công nghiệp thì sản phẩm mang đầy đủ những đặc điểm, tính chất của một sản phẩm dịch vụ: - Tính vô hình: sản phẩm của dịch vụ suất ăn công nghiệp được thực hiện theo một quy trình mà chỉ có thể bán hoặc xác định chất lượng sản phẩm trong và sau khi được sử dụng như món ăn ngon không, có đảm bảo dinh dưỡng… 123doc 9 - Tính không thể tách biệt: quá trình cung cấp và tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời và khách hàng tham gia trực tiếp vào việc tạo ra giá trị sản phẩm. - Tính không đồng nhất: sản phẩm dịch vụ suất ăn công nghiệp rất khó đo lường và tiêu chuẩn hóa vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố: nguồn cung thực phẩm, đội ngũ nhân viên, đầu bếp, công nghệ, khẩu vị khách hàng… Các nhân viên khác nhau không thể tạo những sản phẩm như nhau.
- Tính không tồn trữ: sản phẩm dịch vụ suất ăn công nghiệp không thể tồn kho, tích trữ được.