Luận văn: Giải pháp nâng cao liên thông phần mềm cho Chính phủ điện tử Việt Nam

Luận văn thạc sĩ: Giải pháp nâng cao tính liên thông, tái sử dụng phần mềm xây dựng chính phủ điện tử Việt Nam. Nghiên cứu chuyên sâu, đề xuất hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Công nghệ Thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

57
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

1. Chương 1. Giới thiệu chung

1.1. Giới thiệu chung

1.2. Mục tiêu nghiên cứu và tóm tắt kết quả đạt được

1.3. Tổ chức của luận văn

2. Chương 2. Cơ sở lý thuyết về Chính phủ điện tử và Kiến trúc hướng dịch vụ

2.1. Tổng quan về Chính phủ điện tử

2.2. Chính phủ điện tử Việt Nam và sự hình thành Khung kiến trúc

2.2.1. Tình hình phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam

2.2.2. Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam

2.3. Kiến trúc hướng dịch vụ và các thành phần liên quan

2.3.1. Kiến trúc hướng dịch vụ

2.3.2. Ý nghĩa và các bài toán áp dụng trong thực tiễn

2.3.3. Thành phần tầng kết nối trung gian và vai trò trong SOA

2.3.4. Sự tham gia của thành phần quản lý quy trình nghiệp vụ trong SOA

3. Ứng dụng kiến trúc hướng dịch vụ giải quyết vấn đề liên thông và tái sử dụng

3.1. Các giải pháp kiến trúc phần mềm cho xây dựng Chính phủ điện tử trên thế giới

3.2. Bài toán xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam và hướng áp dụng SOA

3.2.1. Sự liên quan giữa kiến trúc hướng dịch vụ và khung Chính phủ điện tử Việt Nam

3.2.2. Ứng dụng SOA cho bài toán xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam

4. Khảo sát và áp dụng vào bài toán thực tiễn

4.1. Bài toán liên thông thủ tục hành chính

4.2. Áp dụng hướng đã đề xuất để giải quyết bài toán

4.3. Đề xuất mô hình khung cho bài toán xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam

4.4. Các bước hiện thực hóa cho bài toán liên thông các thủ tục hành chính

4.5. Kết quả đạt được

Kết luận và hướng phát triển

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng Quan Giải Pháp Liên Thông Phần Mềm Chính Phủ Điện Tử

Xây dựng Chính phủ điện tử là ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam. Mục tiêu là giúp cơ quan hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. Sau nhiều năm xây dựng, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả khả quan như phổ cập tin học, xây dựng hạ tầng công nghệ thông tin. Tháng 4/2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chính thức giới thiệu Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam phiên bản 1. Tài liệu này xác định rõ các thành phần, bộ phận của tổ chức, cơ quan và mối quan hệ giữa các thành phần này trong Chính phủ điện tử. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết để hoàn thiện Chính phủ điện tử, trong đó, tính liên thông giữa các phần mềm và khả năng tái sử dụng phần mềm có ý nghĩa quan trọng. Khi đưa ra Khung kiến trúc Chính phủ điện tử, Bộ Thông tin truyền thông cũng đã nhấn mạnh vấn đề về khả năng kết nối, tích hợp, khả năng tái sử dụng trong hệ thống các phần mềm. Vấn đề cải cách hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong hoạt động hàng ngày cũng cần được giải quyết. Áp dụng công nghệ vào chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ như cải cách, chuẩn hóa các thủ tục hành chính sẽ giúp tăng hiệu quả phục vụ người dân của Chính phủ, giảm thiểu thời gian đưa các chính sách vào thực thi trong đời sống. Với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay đã đưa đến cho chúng ta rất nhiều giải pháp giải quyết các vấn đề trên để hiện thực hóa Chính phủ điện tử. Kiến trúc hướng dịch vụ (Service Oriented Architecture – SOA) đi cùng với khái niệm về tầng kết nối trung gian (Enterprise Service Bus – ESB) và quản lý quy trình nghiệp vụ (Business Process Management – BPM) được triển khai thành công trên rất nhiều bài toán về hệ thống phần mềm lớn, kết nối nhiều ứng dụng, nâng cao khả năng liên thông, kết nối xuyên suốt cũng như tái sử dụng các quy trình nghiệp vụ, các ứng dụng và thành phần phần mềm sẵn có giúp nâng cao hiệu quả triển khai hệ thống đồng thời giải quyết được các vấn đề về chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ tác nghiệp trong các Cơ quan hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, giảm thiểu được thời gian đưa các chính sách vào trong thực tiễn.

1.1. Tầm Quan Trọng Liên Thông Dữ Liệu Chính Phủ

Tính liên thông dữ liệu chính phủ giúp việc kết nối hiệu quả hơn, phù hợp với yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn của Chính phủ. Khả năng tái sử dụng giúp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả triển khai Chính phủ điện tử. Khung kiến trúc Chính phủ điện tử đã nhấn mạnh vấn đề về khả năng kết nối, tích hợp, khả năng tái sử dụng trong hệ thống các phần mềm từ Trung ương đến địa phương, chúng ta đã thấy có sự xuất hiện của Hệ thống kết nối, liên thông các hệ thống thông tin ở Trung ương và địa phương cũng như Nền tảng tích hợp, chia sẻ cấp Bộ, tỉnh. Tuy nhiên các thông tin được đưa ra chỉ mới ở mức tổng quan, mang tính khái niệm, cần có các giải pháp ứng dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả.

1.2. Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Sử Dụng Công Nghệ

Việc áp dụng giải pháp công nghệ vào giải quyết các vấn đề về chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ tác nghiệp trong Chính phủ đã được ưu tiên từ lâu. Áp dụng công nghệ vào chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ như cải cách, chuẩn hóa các thủ tục hành chính sẽ giúp tăng hiệu quả phục vụ người dân của Chính phủ, giảm thiểu thời gian đưa các chính sách vào thực thi trong đời sống. Hiện nay ở một số các đơn vị từ Trung ương đến địa phương đã có những giải pháp công nghệ hỗ trợ cho tin học hóa các quy trình tác nghiệp hằng ngày. Tuy nhiên các giải pháp này là không đồng bộ, mang tính nhỏ lẻ và hầu hết đều khó thay đổi chỉnh sửa, các cán bộ nhà nước chỉ tham gia vào hệ thống như người sử dụng, khả năng đóng góp ngược, cải tiến quy trình chưa cao.

1.3. Kiến Trúc SOA Cho Chính Phủ Điện Tử

Kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) đi cùng với khái niệm về tầng kết nối trung gian (Enterprise Service Bus – ESB) và quản lý quy trình nghiệp vụ (Business Process Management – BPM) được triển khai thành công trên rất nhiều bài toán về hệ thống phần mềm lớn, kết nối nhiều ứng dụng, nâng cao khả năng liên thông, kết nối xuyên suốt cũng như tái sử dụng các quy trình nghiệp vụ, các ứng dụng và thành phần phần mềm sẵn có giúp nâng cao hiệu quả triển khai hệ thống đồng thời giải quyết được các vấn đề về chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ tác nghiệp trong các Cơ quan hành chính, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, giảm thiểu được thời gian đưa các chính sách vào trong thực tiễn.

II. Thách Thức Kết Nối Phần Mềm Trong Chính Phủ Điện Tử

Chính phủ điện tử Việt Nam đã và đang được xây dựng từng bước trên cơ sở kế thừa những thành công và khắc phục những thất bại của đề án lớn 112, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đến nay chúng ta cũng đã tạo ra được một số kết quả nhất định đáng ghi nhận. Đã tạo điều kiện triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin; số lượng cán bộ, công chức được trang bị máy tính phục vụ công việc ngày càng tăng, đạt khoảng 90%; hệ thống mạng nội bộ (LAN) được triển khai tại tất cả các Bộ, ngành, địa phương; Mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối các cơ quan nhà nước đến cấp quận, huyện. Các ứng dụng Công nghệ thông tin nội bộ trong cơ quan nhà nước được triển khai mạnh mẽ, gần 100% các cơ quan nhà nước đã trang bị hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống thư điện tử để trao đổi văn bản, điều hành qua mạng. Tất cả các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có cổng hoặc trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến, hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 2; ngày càng nhiều dịch vụ công trực tuyến mức 3 được các cơ quan nhà nước cung cấp. Một số hệ thống thông tin chuyên ngành đã được triển khai và phát huy hiệu quả nổi bật, góp phần phát triển kinh tế, tiêu biểu như các hệ thống thuế, hải quan điện tử. Một số hạn chế chính là Thiếu một kiến trúc chung định hướng cho giải pháp phần mềm trong Chính phủ điện tử, các ứng dụng Công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa kết nối, chia sẻ thông tin trên diện rộng. Các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao cung cấp cho người dân và doanh nghiệp còn chưa nhiều, các hệ thống thông tin chuyên ngành quy mô quốc gia, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử chậm được triển khai. Các hệ thống đã được xây dựng còn thiếu kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin. Việc liên thông các hệ thống, các dịch vụ công chưa được coi trọng. Việc đầu tư Công nghệ thông tin đặc biệt về giải pháp phần mềm còn chưa được đồng bộ, nhiều khi có sự trùng lặp giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cấp bởi các giải pháp mang tính nhỏ lẻ, khó tái sử dụng.

2.1. Thiếu Kiến Trúc Tổng Thể Cho Giải Pháp Phần Mềm

Thiếu một kiến trúc chung định hướng cho giải pháp phần mềm trong Chính phủ điện tử, các ứng dụng Công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa kết nối, chia sẻ thông tin trên diện rộng. Các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao cung cấp cho người dân và doanh nghiệp còn chưa nhiều, các hệ thống thông tin chuyên ngành quy mô quốc gia, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử chậm được triển khai.

2.2. Khả Năng Liên Thông và Tái Sử Dụng Hạn Chế

Các hệ thống đã được xây dựng còn thiếu kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin. Việc liên thông các hệ thống, các dịch vụ công chưa được coi trọng. Việc đầu tư Công nghệ thông tin đặc biệt về giải pháp phần mềm còn chưa được đồng bộ, nhiều khi có sự trùng lặp giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cấp bởi các giải pháp mang tính nhỏ lẻ, khó tái sử dụng.

2.3. Vấn Đề Về Đầu Tư Đồng Bộ Hạ Tầng Phần Mềm

Việc đầu tư Công nghệ thông tin đặc biệt về giải pháp phần mềm còn chưa được đồng bộ, nhiều khi có sự trùng lặp giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cấp bởi các giải pháp mang tính nhỏ lẻ, khó tái sử dụng.

III. Hướng Dẫn Ứng Dụng SOA Giải Quyết Liên Thông Phần Mềm

Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam được đưa ra đã giúp cho các cơ quan Chính phủ có cùng một hướng nhìn về bài toán xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam, đây được xem như bước đầu tiên trong việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh. Về mặt hạ tầng kết nối đã khá đầy đủ, tuy nhiên phần mềm hiện chưa có một kiến trúc chung để hiện thực hóa khung kiến trúc, vì vậy cần đưa ra SOA cho phép dịch vụ hóa các ứng dụng (cũ, mới), đảm bảo tính liên thông, khả năng kết nối, khả năng mở rộng cũng như tái sử dụng của các phần mềm được xây dựng. Mục tiêu của các giải pháp Chính phủ điện tử là thay đổi quan niệm của cơ quan nhà nước từ quản lý sang phục vụ người dân, giúp người dân và các cấp quản lý cùng nhau xây dựng một chính phủ vững mạnh, vì vậy để hiện thực hóa điều này ngoài khung kiến trúc cần chuẩn hóa lại các quy trình nghiệp vụ của các ứng dụng nội bộ cũng như dịch vụ công, đưa đến các dịch vụ tốt nhất đến mọi đối tượng công dân, BPM và BPMN là một công cụ phần mềm cho phép sự tham gia của cả người làm chuyên môn và giảm thiểu thời gian triển khai đi vào thực tiễn của các quy trình được đưa ra.

3.1. SOA Cho Phép Dịch Vụ Hóa Ứng Dụng

Cần đưa ra SOA cho phép dịch vụ hóa các ứng dụng (cũ, mới), đảm bảo tính liên thông, khả năng kết nối, khả năng mở rộng cũng như tái sử dụng của các phần mềm được xây dựng.

3.2. Chuẩn Hóa Quy Trình Nghiệp Vụ Và Dịch Vụ Công

Ngoài khung kiến trúc cần chuẩn hóa lại các quy trình nghiệp vụ của các ứng dụng nội bộ cũng như dịch vụ công, đưa đến các dịch vụ tốt nhất đến mọi đối tượng công dân, BPM và BPMN là một công cụ phần mềm cho phép sự tham gia của cả người làm chuyên môn và giảm thiểu thời gian triển khai đi vào thực tiễn của các quy trình được đưa ra.

3.3. Kết Hợp SOA với ESB và BPM

Mục tiêu là đề ra các bước hiện thực hóa SOA cho Chính phủ điện tử Việt Nam, trong đó cần kết hợp kiến trúc SOA, tầng kết nối trung gian ESB và quản lý quy trình nghiệp vụ BPM.

IV. Phương Pháp Xây Dựng Hệ Thống Liên Thông SOA Hiệu Quả

Để hiện thực hóa SOA cho Chính phủ điện tử Việt Nam, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ mục tiêu và tính chất của SOA như thế nào khi áp dụng vào bài toán Chính phủ điện tử trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, như đã đề cập trong các phần về SOA và Chính phủ điện tử Việt Nam, chúng ta có thể liệt kê các mục tiêu và tính chất cần đạt được của hệ thống phần mềm Chính phủ điện tử Việt Nam đó là: Nâng cao tính linh hoạt, tăng khả năng thích ứng của hệ thống với các yêu cầu nghiệp vụ mới, như các bài toán về cải cánh thủ tục hành chính, liên thông thủ tục hành chính đang được đề cập hiện nay ở nước ta. Mục tiêu này giúp cho chúng ta giải quyết nhược điểm về lộ trình “dài hơi” thường gặp phải của các hệ thống lớn. Đẩy mạnh khả năng tái sử dụng trong hệ thống, đây là mục tiêu quan trọng với Việt Nam hiện nay, vì đầu tư cho Chính phủ điện tử là bài toán lớn và lâu dài, đòi hỏi nguồn lực không hề nhỏ, tái sử dụng giúp chúng ta giảm thiểu được nguồn lực đầu tư mà vẫn đạt được mục đích. Chấp nhận thay đổi, và có sự quản lý thay đổi ngay trong nội tại hệ thống, Chính phủ điện tử phục vụ người dân, doanh nghiệp, vì vậy chấp nhận thay đổi là một yêu cầu bắt buộc, kiến trúc đạt được phải hỗ trợ sự thay đổi dựa trên cấu hình hệ thống hơn là lập trình lại hoặc xây dựng từ đầu. Tạo ra môi trường cộng tác giữa các hệ thống con bên trong, giảm thiểu các kết nối điểm - điểm giải quyết bài toán tích hợp, chúng ta sẽ hướng hệ thống đến bản chất của dịch vụ là loại bỏ liên kết chặt chẽ, các thành phần hệ thống liên kết “lỏng” tạo ra một mạng lưới các dịch vụ tương tự như hạ tầng kết nối phần cứng. Mục tiêu này tương đồng với yêu cầu về liên thông hiện nay của Chính phủ điện tử Việt Nam. Dựa trên nền tảng các dịch vụ để tạo ra quy trình nghiệp vụ hướng đến các yêu cầu nghiệp vụ thay vì chỉ đơn thuần là kết hợp chúng về mặt kỹ thuật, điều này giúp định hướng hệ thống luôn gắn theo các yêu cầu từ phía nghiệp vụ, giúp giải quyết nhược điểm thứ hai đã nêu ở trên.

4.1. Nắm Vững Yêu Cầu Nghiệp Vụ Chi Tiết

Xây dựng hệ thống các phần mềm Chính phủ điện tử là một bài toán lớn, với nhiều vấn đề cần giải quyết mà chúng ta thường không thể đưa ra giải quyết cùng lúc và trong thời gian ngắn. Với một bài toán lớn như vậy, hướng tiếp cận của SOA là đưa ra mô hình kiến trúc mục tiêu tổng quát mang tính định hướng và phát triển dần các thành phần bên trong theo từng yêu cầu nghiệp vụ. Trong bước này, chúng ta sẽ phải làm rõ các yêu cầu từ phía nghiệp vụ, mô hình hóa các quy trình nghiệp vụ, đề ra các mục tiêu đạt được khi hoàn thành từng yêu cầu nghiệp vụ. Các yêu cầu về nghiệp vụ cần được chuẩn hóa lại về mặt mô hình, đảm bảo chung một ngôn ngữ mô hình hóa để tất cả các đối tượng tham gia xây dựng hệ thống đều có thể hiểu đúng và đủ.

4.2. Xác Định Các Ứng Dụng và Thành Phần Liên Quan

Chúng ta sẽ không biết bắt đầu từ đâu nếu như không chia nhỏ các yêu cầu nghiệp vụ và đưa ra các vấn đề liên quan cho từng quy trình nghiệp vụ, việc xác định phạm vi các vấn đề liên quan đến từng quy trình nghiệp vụ giống như chúng ta phân chia bài toán thành các miền nhỏ để giải quyết từng phần, đây là tư tưởng chung của SOA. Một hệ thống lớn không nhất thiết phải được xây dựng đồng thời, việc phân chia các miền vấn đề sẽ giúp chúng ta biết được vấn đề cần giải quyết thực sự là gì và sắp thứ tự ưu tiên. SOA không hướng đến việc xây dựng Chính phủ điện tử một lần cho tổng thể, mà nó khuyến khích chúng ta xây dựng theo “nhu cầu” của từng thời điểm điều này phù hợp với bản chất của Chính phủ điện tử là một hệ thống “trưởng thành” theo thời gian.

4.3. Làm Rõ Thông Tin và Bổ Sung Dữ Liệu Hồ Sơ Ứng Dụng

Một điều rất rõ ràng là chúng ta không thể xử lý thông tin nếu không hiểu được thông tin mình cần quản lý. SOA hướng đến việc chia nhỏ hệ thống thành các dịch vụ đóng gói, do đó đối tượng chính cần quản lý là các dịch vụ, vì vậy chúng ta sẽ phải hiểu được các thông tin liên quan đến dịch vụ bao gồm cả các đặc tính và ngữ cảnh sử dụng chúng. Mục tiêu của chúng ta tại bước này chính là xuất phát từ các yêu cầu của từng ứng dụng để đưa ra được các thông tin về những dịch vụ cần cung cấp.

V. Case Study Liên Thông Thủ Tục Hành Chính Với SOA

Để kiểm chứng cơ sở lý thuyết cho hướng áp dụng SOA vào thực tiễn Chính phủ điện tử Việt Nam, luận văn lựa chọn bài toán Một cửa điện tử liên thông với quy trình thủ tục hành chính thực tế hiện đang được vận hành liên thông giữa các cơ quan nhà nước tại mỗi địa phương là Đăng ký khai sinh, Đăng ký thường trú và Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Trong phần tiếp theo chúng ta sẽ đi chi tiết hơn vào bài toán thực tiễn và cách thức thực hiện.

5.1. Bài Toán Thực Tiễn Liên Thông Thủ Tục

Bài toán Một cửa điện tử liên thông với quy trình thủ tục hành chính thực tế hiện đang được vận hành liên thông giữa các cơ quan nhà nước tại mỗi địa phương là Đăng ký khai sinh, Đăng ký thường trú và Cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi.

5.2. Mục Tiêu Tự Động Hóa Liên Kết Cơ Quan Nhà Nước

Mục tiêu cho các vấn đề này là xây dựng hệ thống một cửa điện tử cho phép liên thông các quy trình thủ tục hành chính trên, đảm bảo các quy trình được vận hành đầy đủ như khi thực hiện riêng rẽ nhưng người dân chỉ phải đến khai báo một lần tại đơn vị là Ủy ban nhân dân cấp xã, phường hoặc cho phép người dân khai báo thông tin trực tuyến với giả định chúng ta đã có cơ chế xác thực thông tin đến từng người dân cho các giao dịch trực tuyến.

5.3. Quy Trình Liên Thông Ba Thủ Tục Hành Chính

Mô hình này đồng thời có thể mở rộng và đưa thành các dịch vụ trực tuyến khi đã xây dựng được hạ tầng bảo mật xác thực thông tin đến từng người dân. Kết quả của bước này chúng ta sẽ khảo sát được các quy trình ghiệp vụ liên quan, đồng thời mô hình hóa lại theo các bước xử lý trong thực tế. Ở đây chúng ta sẽ có ba quy trình độc lập làm đầu vào cho việc xây dựng hệ thống Một cửa điện tử liên thông.

VI. Đề Xuất Giải Pháp Kiến Trúc Cho Chính Phủ Điện Tử

Xuất phát từ ý tưởng đưa ra giải pháp phần mềm giải quyết vấn đề liên thông, kết nối và tái sử dụng trong Chính phủ điện tử Việt Nam, luận văn đề xuất sử dụng mô hình mẫu dựa trên SOA. Trong đó tập trung việc giải quyết vấn đề kết nối, liên thông dựa vào thành phần ESB ở các cấp địa phương và trung ương tương ứng với thành phần LGSP và NGSP được đưa ra trong Khung chính phủ điện tử Việt Nam, đồng thời với hướng tiếp cận dịch vụ hóa các ứng dụng, thành phần ứng dụng, đặc biệt là đưa vào thành phần Quản lý quy trình nghiệp vụ (BPM) như một sự đảm bảo cho vấn đề chuẩn hóa và tái sử dụng cả về các chức năng cũng như nghiệp vụ trong hệ thống.

6.1. Mô Hình Hướng Đến Dịch Vụ Hóa Toàn Bộ

Mô hình nêu trên hướng đến việc dịch hóa tất cả các thành phần hệ thống, và phân nhóm các ứng dụng theo đơn vị triển khai, theo chức năng hoạt động. Mỗi nhóm ứng dụng sẽ được phân chia chi tiết hơn trong khi xây dựng giải pháp cho từng bài toán cụ thể.

6.2. Thành Phần ESB Trung Tâm Kết Nối

Thành phần kết nối trung gian Local ESB và National ESB là thành phần đảm nhận nhiệm vụ kết nối các ứng dụng nội bộ cũng như ứng dụng liên thông mức quốc gia. Thành phần này là trung tâm để xây dựng các dịch vụ dùng chung, xóa bỏ kết nối điểm - điểm giữa các thành phần trong hệ thống. Thành phần này là thành phần tiêu chuẩn trong SOA, đảm bảo sự hình thành nên kiến trúc tổng thể cho hệ thống phần mềm.

6.3. Thành Phần BPM Quản Lý Quy Trình Nghiệp Vụ

Thành phần quản lý quy trình nghiệp vụ BPM đảm nhận việc quản lý các quy trình nghiệp vụ bên trong các ứng dụng như Ứng dụng nội bộ các đơn vị, Ứng dụng chuyên ngành theo ngành dọc, Ứng dụng dịch vụ công trực tuyến… Mỗi ứng dụng đều có các quy trình nghiệp vụ riêng và các quy trình này cần được mô hình hóa, quản lý để hướng tới chuẩn hóa và tái sử dụng. SOA đưa ra mô hình mục tiêu với việc hỗ trợ tối đa cho các yêu cầu từ nghiệp vụ, thành phần quản lý quy trình nghiệp vụ này tham gia vào hệ thống để đảm bảo rằng các yêu cầu nghiệp vụ luôn luôn song hành cùng hệ thống, từ việc mô hình hóa, cài đặt cho đến thực thi trong thực tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ đề xuất giải pháp nâng cao tính liên thông và tái sử dụng trong phần mềm cho bài toán xây dựng chính phủ điện tử ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Đưa ra mục tiêu nghiên cứu, tóm tắt kết quả đạt được và đề ra cấu trúc chi tiết của luận văn. Chương 2: Trình bày các khái niệm cơ bản về Chính phủ điện tử, Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam. Chương 3: Trình bày về kiến trúc hướng dịch vụ và thành phần tầng kết nối trung gian giải quyết các vấn đề về kết nối giữa các hệ thống cũng như tái sử dụng, tận dụng hạ tầng sẵn có để hướng đến một hệ thống phần mềm kết nối xuyên suốt. Mục tiêu của chương này là đề ra các bước hiện thực hóa SOA cho Chính phủ điện tử Việt Nam.

Chương 4: Trình bày khảo sát một số quy trình nghiệp vụ thực tế tại các cơ quan Nhà Nước. Hiện thực hóa các quy trình này theo SOA để làm rõ các bước thực hiện. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Chương 2. Cơ sở lý thuyết về Chính phủ điện tử và Kiến trúc hướng dịch vụ 2.

Tổng quan về Chính phủ điện tử Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới [4]: Chính phủ điện tử là việc các cơ quan của Chính phủ sử dụng một cách có hệ thống Công nghệ thông tin - viễn thông để thực hiện các dịch vụ hành chính công với công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Nhờ đó, giao dịch của các cơ quan Chính phủ với công dân và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng. Chính phủ điện tử ra đời như một lẽ tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, vì để đáp ứng được các yêu cầu ngày một nhiều và khắt khe đến từ người dân, doanh nghiệp bắt buộc mỗi quốc gia phải xây dựng một hệ thống Công nghệ thông tin cho Chính phủ ngày một mạnh để đáp ứng được hết các yêu cầu. Mục tiêu lớn nhất của Chính phủ điện tử là giúp chuyển đổi dần cơ chế hoạt động của bộ máy cơ quan Chính phủ từ quản lý sang phục vụ mà ở đó đối tượng được phục vụ chính là người dân, doanh nghiệp và chính các cơ quan Chính phủ Việc áp dụng Công nghệ thông tin vào quản lý điều hành bộ máy các cơ quan Chính phủ sẽ giúp các hoạt động được rõ rang, nâng cao tính minh bạch, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân, doanh nghiệp của cơ quan Chính phủ.

Để xây dựng và phát triển nên một hệ thống Chính phủ điện tử đủ tốt phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như bộ máy tổ chức, hạ tầng kỹ thuật, con người và về các chính sách liên quan và đây thực sự là một bài toán lớn cần đầu tư nhiều thơi gian, công sức. Theo bảng xếp hạng năm 2014 của UNPASC (United Nations Public Administration Country Studies) về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tại mỗi quốc gia thì chúng ta có thể thấy các nước phát triển đều rất chú trọng đầu tư cho Chính phủ điện tử như Hàn Quốc liên tục nâng cao thứ hạng trong những năm gần đây và trở thành quốc gia có chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tốt nhất (xem bảng 2-1), hầu như mọi giao dịch giữa Chính phủ với người dân, doanh nghiệp đều qua hệ thống Công nghệ thông tin trực tuyến. Quốc gia Chỉ số phát triển Chính Tỷ lệ dịch vụ trực tuyến phủ điện tử (EGDI) Hàn Quốc 0.8938 100% TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Hà Lan 0. Bảng xếp hạng chỉ số phát triển Chính phủ điện tử [5] Cũng theo bảng xếp hạng trên Việt Nam hiện đang đứng thứ 99 với tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến nhỏ hơn 50%.

Chính phủ điện tử Việt Nam và sự hình thành Khung kiến trúc 2. Tình hình phát triển Chính phủ điện tử tại Việt Nam Chính phủ điện tử Việt Nam đã và đang được xây dựng từng bước trên cơ sở kế thừa những thành công và khắc phục những thất bại của đề án lớn 112, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, đến nay chúng ta cũng đã tạo ra được một số kết quả nhất định đáng ghi nhận. Mặt mạnh Đã tạo điều kiện triển khai ứng dụng Công nghệ thông tin; số lượng cán bộ, công chức được trang bị máy tính phục vụ công việc ngày càng tăng, đạt khoảng 90%; hệ thống mạng nội bộ (LAN) được triển khai tại tất cả các Bộ, ngành, địa phương; Mạng truyền số liệu chuyên dùng đã kết nối các cơ quan nhà nước đến cấp quận, huyện. Các ứng dụng Công nghệ thông tin nội bộ trong cơ quan nhà nước được triển khai mạnh mẽ, gần 100% các cơ quan nhà nước đã trang bị hệ thống quản lý văn bản và điều hành, hệ thống thư điện tử để trao đổi văn bản, điều hành qua mạng.

Tất cả các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có cổng hoặc trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến, hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 2; ngày càng nhiều dịch vụ công trực tuyến mức 3 được các cơ quan nhà nước cung cấp. Một số hệ thống thông tin chuyên ngành đã được triển khai và phát huy hiệu quả nổi bật, góp phần phát triển kinh tế, tiêu biểu như các hệ thống thuế, hải quan điện tử. Một số hạn chế Thiếu một kiến trúc chung định hướng cho giải pháp phần mềm trong Chính phủ điện tử, các ứng dụng Công nghệ thông tin trong cơ quan nhà nước chủ yếu ở quy mô nhỏ, chưa kết nối, chia sẻ thông tin trên diện rộng. Các dịch vụ công trực tuyến mức độ cao cung cấp cho người dân và doanh nghiệp còn chưa nhiều, các hệ thống thông tin chuyên ngành quy mô quốc gia, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử chậm được triển khai.

Các hệ thống đã được xây dựng còn thiếu kết nối, chia sẻ, trao đổi thông tin. Việc liên thông các hệ thống, các dịch vụ công chưa được coi trọng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 Việc đầu tư Công nghệ thông tin đặc biệt về giải pháp phần mềm còn chưa được đồng bộ, nhiều khi có sự trùng lặp giữa các cơ quan nhà nước, giữa các cấp bởi các giải pháp mang tính nhỏ lẻ, khó tái sử dụng. Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam Với mục đích xác định, thống nhất sơ đồ tổng thể Khung Kiến trúc Chính phủ điện tử của Quốc gia.

Bộ thông tin truyền thông đã đưa ra Khung kiến trúc Chính phủ điện tử nhằm làm căn cứ cho các cơ quan nhà nước xác định vị trí, trách nhiệm của mình trong sự phát triển Chính phủ điện tử đồng bộ của Quốc gia. Sơ đồ tổng thể khung kiến trúc [1] Trên cơ sở Sơ đồ khung tổng thể được đưa ra, các cơ quan nhà nước, các bộ ban ngành, các tỉnh thành cũng có thể đưa ra các kế hoạch ứng dụng Công nghệ thông tin theo lộ trình và trách nhiệm triển khai ở các cấp bảo đảm sự kết nối, chia sẻ, liên thông và sử dụng lại thông tin, cơ sở hạ tầng thông tin. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Khung kiến trúc Chính phủ điện tử cấp bộ [1] Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam được đưa ra đã giúp cho các cơ quan Chính phủ có cùng một hướng nhìn về bài toán xây dựng Chính phủ điện tử Việt Nam, đây được xem như bước đầu tiên trong việc xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh. Về mặt hạ tầng kết nối đã khá đầy đủ, tuy nhiên phần mềm hiện chưa có một kiến trúc chung để hiện thực hóa khung kiến trúc, vì vậy cần đưa ra SOA cho phép dịch vụ hóa các ứng dụng (cũ, mới), đảm bảo tính liên thông, khả năng kết nối, khả năng mở rộng cũng như tái sử dụng của các phần mềm được xây dựng.

Mục tiêu của các giải pháp Chính phủ điện tử là thay đổi quan niệm của cơ quan nhà nước từ quản lý sang phục vụ người dân, giúp người dân và các cấp quản lý cùng nhau xây dựng một chính phủ vững mạnh, vì vậy để hiện thực hóa điều này ngoài khung kiến trúc cần chuẩn hóa lại các quy trình nghiệp vụ của các ứng dụng nội bộ cũng như dịch vụ công, đưa đến các dịch vụ tốt nhất đến mọi đối tượng công dân, BPM và BPMN là một công cụ phần mềm cho phép sự tham gia của cả người làm chuyên môn và giảm thiểu thời gian triển khai đi vào thực tiễn của các quy trình được đưa ra. Kiến trúc hướng dịch vụ và các thành phần liên quan 2. Kiến trúc hướng dịch vụ Trước khi nhắc đến kiến trúc hướng dịch vụ, chúng ta cần đề cập đến khái niệm về kiến trúc phần mềm, kiến trúc phần mềm là cấu trúc của hệ thống được tạo nên bởi các thành phần, các thuộc tính của tửng thành phần có thể thấy được từ bên ngoài, mối quan hệ giữa các thành phần. Việc thiết kế và xây dựng kiến trúc cho hệ thống các phần mềm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 thường theo hướng tiếp cận từ trên xuống, nó phụ thuộc nhiều vào tầm nhìn về kiến trúc hệ thống của tổ chức, cũng như phụ thuộc vào yêu cầu từ phía nghiệp vụ của tổ chức.

Như trong phương pháp luận về xây dựng kiến trúc tổng thể của TOGAF [6] cũng đã đưa ra các bước để tiến hành xây dựng một kiến trúc tổng thể cho hệ thống các phần mềm.3 Phương pháp luận TOGAF xây dựng kiến trúc tổng thể [6] Kiến trúc hướng dịch vụ (Service Oriented Architechture – gọi tắt là SOA) là một khái niệm về kiến trúc hệ thống phần mềm nhằm đem lại một cách thuận tiện nhất những chức năng nghiệp vụ, hoặc là những quy trình ứng dụng, tới người sử dụng dưới dạng các dịch vụ hoạt động trên môi trường mạng có khả năng chia sẻ và sử dụng lạị. Dịch vụ ở đây được hiểu là những phân hệ nghiệp vụ hoặc chức năng ứng dụng với giao diện được thiết kế theo quy định và được tương tác bằng cách gửi nhận thông điệp [7]. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Khái quát kiến trúc hướng dịch vụ [7] Trong khi kiến trúc tổng thể (Enterprise Architecture – EA) là một phương pháp luận nhằm xác định, sắp xếp và điều chỉnh quy trình nghiệp vụ cho phù hợp với tầm nhìn, chiến lược và mục tiêu của một cơ quan, tổ chức, SOA như một mô hình mẫu kiến trúc chủ yếu được sử dụng trong thiết kế và phát triển các hệ thống thông tin phục vụ cho những quy trình nghiệp vụ đã được nhận biết (trong kiến trúc tổng thể).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ