CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN BÀI TOÁN QUẢN LÝ TÀI SẢN – NỢ 1. Giới thiệu về ngân hàng BIDV Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là ngân hàng thương mại lâu đời nhất tại Việt Nam với hơn 65 năm hình thành và phát triển. Hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, đầu tư tài chính, nắm giữ số tài sản hơn 2,1 triệu tỉ đồng (2022). Ban đầu BIDV được thành lập với tên gọi “Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam” (1957- 1981) với nhiệm nhiệm vụ cấp phát, quản lý toàn bộ số vốn do NHNN cấp dành cho đầu tư, kiến thiết cơ bản phục công cuộc xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đánh Mỹ.
Theo dòng lịch sử BIDV không còn hoạt động theo hệ thống tài khóa ngân sách cấp phát như thời bao cấp mà chuyển sang hệ thống tài chính – ngân hàng với các hoạt động tín dụng phục vụ phát triển kinh tế. Từ năm 2012 BIDV đã được cổ phần hóa trở thành ngân hàng thương mại cổ phần tuy nhiên cổ đông NHNN vẫn chiếm quyền chi phối và được coi là một trong những Big 4 của Việt Nam. Với tầm nhìn đến năm 2030 trở thành ngân hàng có nền tảng số tốt nhất Việt Nam, BIDV đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả đáng khích lệ trên hành trình chuyển đổi số. Đồng thời, BIDV đã triển khai các chương trình truyền thông, đào tạo về sản phẩm số dành cho doanh nghiệp với nhiều hình thức mới mẻ, dễ tiếp cận để lan tỏa các giải pháp của BIDV tới khách hàng, từ đó thực hiện được các mục tiêu của BIDV về hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi số.
Cho đến nay, với vai trò là một trong những ngân hàng tiên phong trong lĩnh vực chuyển đổi số, BIDV đã đạt được nhiều kết quả xuất sắc trong hoạt động chuyển đổi số và được vinh danh với các giải thưởng danh giá như Ngân hàng SME tốt nhất Đông Nam Á 2022, Ngân hàng SME tốt nhất Việt Nam 5 năm liên tiếp từ 2018-2022; Chuyển đổi số Việt Nam - Vietnam Digital Awards 2021, 2022 Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam - Vietnam Digital Awards (VDA) năm 2022… (Bộ Công thương Việt Nam, 2022) 1. Giới thiệu bài toán quản lý Tài sản – Nợ Về cốt lõi, quản lý Tài sản – Nợ là một cách để các tổ chức tài chính giải quyết các rủi ro do sự bất cân xứng giữa tài sản và nợ phải trả. Thông thường sự bất cân xứng ấy là kết quả của những thay đổi về bối cảnh tài chính, chẳng hạn như thay đổi lãi suất hoặc yêu cầu thanh khoản (Hảo, 2015). Một hệ thống quản lý Tài sản – Nợ đầy đủ tập trung vào sự ổn định và lợi nhuận dài hạn bằng cách duy trì các yêu cầu về thanh khoản, quản lý chất lượng tín dụng và đảm bảo ngân hàng có đủ vốn để hoạt động.
Không giống như các phương thức quản lý rủi ro khác, quản lý Tài sản – Nợ là một quy trình phối hợp sử dụng các khuôn khổ để Trịnh Thị Quỳnh – K22HTTTA 3 Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng kho dữ liệu và tích hợp dữ liệu quản lý Tài sản – Nợ tại ngân hàng BIDV giám sát toàn bộ bảng cân đối kế toán của tổ chức, nó đảm bảo rằng các tài sản được đầu tư một cách tối ưu nhất và các khoản nợ được giảm xuống trong dài hạn (Hảo, 2015). Theo truyền thống, các tổ chức tài chính quản lý rủi ro một cách riêng biệt dựa trên các loại rủi ro liên quan như rủi ro thanh toán, rủi ro nguồn vốn, rủi ro tiền tệ… Tuy nhiên với sự phát triển của bối cảnh tài chính biến động hiện nay nó được coi là lạc hậu, lỗi thời. Thực tế quản lý Tài sản – Nợ tập trung vào quản lý tài sản và giảm thiểu rủi ro ở cấp độ vĩ mô nhằm giải quyết các lĩnh vực như thị trường, thanh khoản và rủi ro tín dụng. Không giống như các hoạt động quản lý rủi ro truyền thống, quản lý Tài sản – Nợ là một quy trình liên tục, theo dõi liên tục các rủi ro để đảm bảo rằng một tổ chức nằm trong khả năng chịu đựng rủi ro và tuân thủ các khuôn khổ pháp lý.
Việc áp dụng quản lý Tài sản – Nợ mở rộng trên toàn ngành tài chính và có thể được tìm thấy trong các tổ chức như ngân hàng, các tổ chức tài chính và công ty bảo hiểm. Việc triển khai ALM có thể mang lại lợi ích cho nhiều tổ chức vì nó giúp họ quản lý các khoản nợ của mình một cách chiến lược và có sự chuẩn bị tốt hơn cho những bất ổn trong tương lai. Sử dụng ALM cho phép ngân hàng nhận diện và định lượng các rủi ro hiện có trên bảng cân đối kế toán của mình và giảm thiểu rủi ro do sự không cân đối giữa tài sản và nợ phải trả. Từ đó giúp cho ngân hàng có thể đạt được hiệu quả và lợi nhuận cao hơn trong hoạt động kinh doanh.
Ngoài ra quản lý Tài sản – Nợ còn là một chiến lược dài hạn liên quan đến các dự báo và bộ dữ liệu hướng tới tương lai cần được chuyển đổi để có thể định lượng được bằng các phương pháp toán học. Để làm được điều này trước tiên dữ liệu cần phải được tích hợp tại kho dữ liệu quản lý Tài sản – Nợ. Khả năng tập trung dữ liệu nhanh chóng từ nhiều nguồn của kho dữ liệu có thể tăng tốc độ phân tích của ngân hàng, cho phép các nhà quản lý rút ra những kinh nghiệm sâu sắc một cách hiệu quả, nhanh chóng và đưa ra quyết định kịp thời để giảm thiểu rủi ro. Quá trình tích hợp dữ liệu vào kho còn giúp cải thiện hiệu quả quản lý và sử dụng dữ liệu đồng thời đảm bảo chất lượng và tính toàn vẹn của dữ liệu 1.
Cơ sở lý thuyết quản lý Tài sản – Nợ 1. Các khái niệm về quản lý Tài sản – Nợ 1. Tài sản Tài sản (hay Tài sản Có) là giá trị tiền tệ của các tài sản mà ngân hàng có quyền sở hữu (gồm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) một cách hợp pháp, chúng là kết quả của các hoạt động kinh doanh trước đó, hiện đang được sử dụng cho những mục đích khác nhau nhằm mang lại thu nhập cho ngân hàng tính đến thời điểm nhất định. Nói cách khác, tài sản là kết quả của việc sử dụng vốn của ngân hàng và được hình thành từ các nguồn vốn của ngân hàng trong quá trình hoạt động (Hảo, 2015).
Trịnh Thị Quỳnh – K22HTTTA 4 Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng kho dữ liệu và tích hợp dữ liệu quản lý Tài sản – Nợ tại ngân hàng BIDV Cấu trúc của tài sản sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động quản lý vì vậy ta cùng xem xét các thành phần của tài sản: - Ngân quỹ: Là loại tài sản có tính thanh khoản cao mà ngân hàng phải duy trì để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại các ngân hàng khác và các khoản dự trữ bắt buộc (Hảo, 2015). - Các khoản đầu tư: gồm các công cụ thị trường tiền tệ như trái phiếu ngắn hạn của các công ty với thời hạn dưới 1 năm, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn dưới 1 năm với lợi tức và rủi ro thấp còn các công cụ thị trường vốn như trái phiếu Chính phủ, trái phiếu dài hạn của các công ty, công trái… có lợi tức cao đồng thời rủi ro cũng cao. - Các khoản cho vay: là khoản mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng nhưng cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro và được cấu thành bởi nhiều loại hình như tín dụng trực tiếp, tín dụng gián tiếp, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng,… - Các loại tài sản khác: tài sản cố định, các khoản phải thu… 1. Nợ Nợ (hay Tài sản Nợ) là giá trị tiền tệ của các nguồn vốn mà ngân hàng huy động được từ dân cư, các tổ chức kinh tế hay các tổ chức tín dụng khác và ngân hàng có nghĩa vụ phải hoàn trả cho người gửi cả gốc lẫn lãi sau một kỳ hạn nhất định.
Nói cách khác, tài sản nợ là nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng, được sử dụng với những mục đích khác nhau nhằm mang lại thu nhập cho ngân hàng (Hảo, 2015). Thành phần của nợ bao gồm: - Các tài khoản giao dịch: là những tài khoản được mở nhằm mục đích thanh toán điện tử, đây là loại tiền gửi không ổn định nên ngân hàng không phải trả lãi suất cao và thường dùng để dự trữ và một phần cho vay ngắn hạn. Các tài khoản này là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn và tài khoản vãng lai. - Các tài khoản phi giao dịch: là các tài khoản tiền gửi định kỳ, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Đây là loại tiền gửi ổn định nên ngân hàng thường sử dụng để cho vay trong trung và dài hạn, khách hàng sẽ được hưởng mức lợi tức với lãi suất cao hơn so với tiền gửi không kỳ hạn. - Vốn vay trên thị trường tiền tệ: các ngân hàng có thể vay và cho vay lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng; vay ngân hàng Trung ương; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu hay trái phiếu ngân hàng. - Bán và chứng khoán hóa các khoản cho vay: Chứng khoán hóa các khoản cho vay là một phương pháp huy động vốn và hạn chế rủi ro đơn giản của ngân hàng, giúp ngân hàng thay đổi một tài sản thành nguồn vốn cho mình. Nó đòi hỏi ngân hàng phải dành riêng một nhóm các tài sản sinh lời và bán ra thị trường các chứng khoán được phát hành trên những tài sản đó.
Về bản chất, các khoản cho vay của ngân hàng đã được chuyển thành những chứng khoán được mua bán tự do. Ngân hàng sẽ nhận lại phần vốn Trịnh Thị Quỳnh – K22HTTTA 5 Khóa luận tốt nghiệp Xây dựng kho dữ liệu và tích hợp dữ liệu quản lý Tài sản – Nợ tại ngân hàng BIDV đã bỏ ra để có các tài sản đó và sử dụng nguồn vốn này vào việc tạo ra những tài sản mới hoặc để trang trải các chi phí hoạt động. - Vốn chiếm dụng: Trong quá trình hoạt động có một loại vốn mà các ngân hàng có thể tạm thời sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn của ngân hàng.