Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Trong phần tổng quan về đề tài nghiên cứu tác giả trình bày về tính cấp thiết của đề tài, tổng quan tình hình nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu về không gian, thời gian và các phương pháp sử dụng để nghiên cứu. Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển trong doanh nghiệp. Trong phần này, tác giả hướng tới tổng hợp các khái niệm liên quan đến quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển.
Từ đó nêu ra các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển tại doanh nghiệp. Chương 3: Phân tích thực trạng quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty TNHH Vận tải và Tiếp vận Toàn cầu. Dựa trên các lý luận cơ bản đã nêu ở chương 2, tác giả tiến hành khái quát về thông tin của công ty sau đó đi vào phân tích và đánh giá về thực trạng quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty. Từ những phân tích đánh giá đó, tác giả nêu rõ những thành công, hạn chế của quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty.
Chương 4: Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy trình cung ứng dịch vụ logistics bằng đường biển của công ty Vận tải và Tiếp vận Toàn cầu. Ở chương 4, tác giả đưa ra các định hướng phát triển của công ty trong giai đoạn tiếp theo và đề xuất các giải pháp giải quyết những tồn tại trong quy trình cung ứng của công ty. 13 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH CUNG ỨNG DỊCH VỤ LOGISTICS BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Khái quát về dịch vụ logistics trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm logistics và dịch vụ logistics Về logistics Theo từ điển Oxford bản gốc (1908): “Logistics là một nhánh của ngành khoa học quân sự, liên quan đến các hoạt động thu mua, bảo dưỡng và vận chuyển vật chất, nhân sự và phương tiện”. Định nghĩa này được đưa ra vì logistics được nhiều người cho rằng xuất phát từ “logistique” trong tiếng Pháp, xuất hiện trong quyển “Nghệ thuật chiến tranh” của Baron Henri.
Ngoài ra có một số ý kiến lại cho rằng “logistics” xuất phát từ tiếng Hy Lạp với 2 từ là “logosh” - lý lẽ và “loyistikosh” – kế toán chuyên đo đếm, phản ánh môn khoa học với tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vật chất và kỹ thuật để cho quá trình chính yếu được thực hiện đúng mục tiêu. Đến khi ngành sản xuất và dịch vụ bắt đầu mượn logistics và sử dụng thuật ngữ “logistics kinh doanh” được áp dụng rất nhiều bởi quân đội Pháp trong thế chiến. Năm 1988, Hội đồng Quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC - The US. Logistics Administration Council) đưa ra khái niệm: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin có liên quan, từ khâu mua sắm nguyên vật liệu cho đến khi được tiêu dùng, với mục đích thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”.
Năm 1998, Christopher định nghĩa logistics như sau: Logistics là quá trình quản lý chiến lược mua sắm, vận chuyển và lưu trữ nguyên liệu, các bộ phận và hàng tồn kho thành phẩm cùng luồng thông tin có liên quan thông qua tiến trình tổ chức và thực hiện các kênh tiếp thị. Logistics không dừng lại ở việc xử lý hay vận chuyển, mà còn bao gồm tổ hợp các hoạt động như truyền thông, dịch vụ khách hàng, nội địa hóa, hậu cần (Stock và Lambert, 2001) và lập kế hoạch có liên quan mật thiết đến thương mại và sản xuất (Grant và cộng sự, 2006). Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về thuật ngữ logistics, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tiếp cận logistics theo quan điểm logistics chuỗi cung ứng: “ Logistics là quá trình tối ưu hóa về vị trí, vận chuyển và dự trữ các nguồn tài nguyên từ điểm đầu của dây chuyền cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua hàng loạt các hoạt động kinh tế”. (An Thị Thanh Nhàn, (2018), Giáo trình quản trị logistics kinh doanh) Về dịch vụ logistics Theo cách gọi trong Luật Thương Mại 1997 của Việt nam thì dịch vụ logistics là dịch vụ giao nhận hàng hóa được quy định: “ Dịch vụ giao nhận hàng hóa là hành vi 14 thương mại, theo đó, người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức việc vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để giao hàng cho người nhận hàng theo ủy thác của chủ hàng, người vận tải hoặc của người làm dịch vụ giao nhận khác (gọi chung là khách hàng)” Đến năm 2005 thì khái niệm dịch vụ logistics được chính thức hóa trong Luật Thương Mại (Điều 233) và nghị định 140/2007 ND-CP quy định : “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng và các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Các dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm: Thứ nhất, các dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm: Dịch vụ bốc xếp, dịch vụ vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải, dịch vụ bổ trợ như tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan, xử lý lại hàng hóa bị trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container. Thứ hai, các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải bao gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải, vận tải thuỷ nội địa, vận tải hàng không, vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường ống. Thứ ba, các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm: Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật, Dịch vụ bưu chính, Dịch vụ thương mại bán buôn, Dịch vụ thương mại bán lẻ, Dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.2 Đặc điểm, vai trò của dịch vụ logistics a) Đặc điểm của dịch vụ logistics Dịch vụ logistics có những đặc điểm cụ thể như sau: Thứ nhất là tính vô hình: Dịch vụ logistics không phải là một sản phẩm, hàng hóa hiện hữu nên khách hàng không thể hình dung được dịch vụ logistics là một sản phẩm như thế nào mà chỉ đánh giá được sau khi hoàn thành quá trình vận chuyển, lưu kho hàng hóa. Khách hàng chỉ có thể cảm nhận và đánh giá chất lượng dịch vụ logistics sau khi đã sử dụng sản phẩm thông qua các tiêu chí nhất định như: thời gian giao hàng, mức độ hư hao của hàng hóa, tính chính xác của chứng từ, mức độ chăm sóc khách hàng,.
Dịch vụ logistics có đặc điểm là tính vô hình do bản chất của logistics là thực hiện các công việc liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa và các thủ tục liên quan. Do đó, doanh nghiệp phải nỗ lực xây dựng uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, vì logistics không hiện hữu nên nhờ danh tiếng và sự nâng cao chất lượng dịch vụ thì công ty có thể làm khách hàng tin tưởng hơn. Thứ hai là tính không dự trữ được: Quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics diễn ra đồng thời nên dịch vụ logistics không dự trữ được. Việc này làm cho sự cân bằng 15 cung cầu về dịch vụ logistics không được đảm bảo.
Lúc các doanh nghiệp có nhu cầu nhập hàng nhiều để dự trữ trong các dịp lễ thì nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics cao khiến doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu Thứ ba là tính không tách rời: Do đặc thù là ngành dịch vụ nên quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ logistics diễn ra một cách đồng nhất và có đặc điểm không tách rời. Bởi thế khách hàng và công ty dịch vụ logistics khó có thể tính toán chuẩn xác về thời gian cung ứng cũng như những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình cung ứng dịch vụ. Thứ tư là tính không đồng đều về chất lượng: Dịch vụ logistics là một dịch vụ khó có một tiêu chuẩn để đo lường về chất lượng của dịch vụ do sự phụ thuộc vào các yếu tố khác như: yếu tố môi trường, yếu tố máy móc, yếu tố con người,. Do đó, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics không thể đảm bảo chất lượng mỗi lần cung cấp là giống nhau.
Thứ năm là tính tích hợp cao: Tính tích hợp là khả năng phối hợp các hoạt động với nhau trong một quy trình cung ứng. Hiện nay, khi sản xuất kinh doanh và thương mại hiện đại phát triển thì với vai trò là hoạt động hỗ trợ cho hoạt động thương mại thì dịch vụ logistics cũng phải mang trong mình những đặc tính này để phát triển và đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Cuối cùng là mạng lưới phân phối rộng: Hoạt động thương mại đang trong xu thế toàn cầu hóa, các thị trường kinh doanh mở rộng và phát triển mạnh mẽ dẫn tới việc đòi hỏi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics phải có mạng lưới cung ứng đa dạng ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ dưới dạng văn phòng đại diện hoặc đại lý vận tải để đáp ứng được yêu cầu mua bán trong nước và quốc tế. b) Vai trò của dịch vụ logistics Đối với nền kinh tế: Thứ nhất, dịch vụ logistics giúp nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội: Logistics là một chuỗi hoạt động liên tục có quan hệ mật thiết với nhau, là mối liên kết kinh tế của quốc gia với toàn cầu qua việc cung cấp các loại nguyên vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, hàng hóa để thực hiện hoạt động sản xuất, phân phối, kinh doanh và mở rộng thị trường.
Thứ hai, dịch vụ logistics góp phần tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế của quốc quốc gia: Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ dẫn tới dịch vụ logistics phát triển là một lợi thế trong sự cạnh tranh đó. Logistics đang hỗ trợ cho các luồng dịch chuyển hàng hóa, các giao dịch kinh tế ở các quốc gia. Khi hoạt động logistics diễn ra liên tục, nhịp nhàng thì nền kinh tế mới có thể phát triển vì vậy nâng cao chất lượng dịch vụ logistics giúp cho nền kinh tế ngày càng phát triển nhanh chóng.