CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRONG HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP NHÀ NHÀ DOANH NGHIỆP KHOA HỌC YẾU TỔ YẾU TỐ BÊN NGOÀI HTX NÔNG NGHIỆP BÊN TRONG DỊCH VỤ Phục vụ Mua Bán DỊCH VỤ ĐẦU VÀO KINH TẾ HỘ DỊCH VỤ ĐẦU RA Cung Cung Cung Cung Cung Thực Bảo ứng cấp ứng ứng ứng hiện quản giống dịch dịch vật tư chuyển tiêu sản cây vụ vụ cày nông giao thụ phẩm trồng, thuỷ xới nghiệp tiến bộ kỹ sản …. vật nông nuôi thuật… phẩm 1.1 Một số vấn đề cơ bản về hợp tác xã nông nghiệp 1.1 Khái niệm Hợp tác xã: Theo Luật hợp tác xã Việt Nam, Điều 1, hợp tác xã được định nghĩa như sau: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”. [1] Hợp tác xã nông nghiệp: Theo Nghị định 43/CP của Chính phủ (29.1997) về việc ban hành Điều lệ mẫu Hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp được 3 định nghĩa: “Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ, do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình của các xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp”. [2] Từ định nghĩa trên về hợp tác xã nông nghiệp, có thể rút ra mấy đặc điểm chủ yếu sau: Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự chủ của những người nông dân, người lao động tự nguyện lập ra theo quy định của Luật hợp tác xã.
Hợp tác xã nông nghiệp không tổ chức sản xuất nông nghiệp tập trung mà chỉ tổ chức hoạt động dịch vụ, hỗ trợ cho kinh tế hộ xã viên như: Tưới – tiêu nước; Phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi; Cung ứng vật tư, phân bón thuốc trừ sâu…. Hợp tác xã nông nghiệp có thể kinh doanh các ngành nghề, dịch vụ khác nhau như: Chế biến, tiêu thụ nông sản… phục vụ nhu cầu sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn và đời sống của xã viên.2 Cần thiết khách quan ra đời và tồn tại loại hình hợp tác xã nông nghiệp Gần nửa thế kỷ qua, hợp tác xã trong nông nghiệp ở nước ta đã trải qua nhiều thăng trầm. Sau một thời gian tồn tại, mô hình hợp tác xã “kiểu cũ” ngày càng tỏ ra không phù hợp với đặc điểm yêu cầu của sự phát triển kinh tế trong điều kiện mới. Nghị quyết 10 NQ/TW của Bộ chính trị (05/4/1988) ra đời đã đánh dấu bước chuyển biến cơ bản với chủ trương coi hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, ngoài việc nhận khoán sử dụng ruộng đất, thực hiện các hợp đồng khác với hợp tác xã, còn chủ động phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ với nhiều hình thức.
Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, có nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại và có ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của nông dân. Trong các thành phần đó, kinh tế tư thương đang chi phối, lấn át. Thể hiện: 4 NHÀ CUNG CẤP NHÀ TIÊU NÔNG HỘ THỤ Với sơ đồ trên ta thấy, quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân chịu sự chi phối của hai đối tượng: Nhà cung cấp và Nhà tiêu thụ. Nếu mọi hoạt động dịch vụ giữa nông hộ và nhà cung cấp dịch vụ trong quá trình sản xuất hay giữa nông hộ và nhà tiêu thụ sản phẩm trong quá trình tiêu thụ diễn ra theo quan hệ trực tiếp, tay đôi thì: Đối với hoạt động cung cấp dịch vụ đầu vào: Thị trường dịch vụ của nhà cung cấp sẽ trở thành thị trường của người bán, đặc điểm của thị trường này là nhiều người mua nhưng ít người bán, lợi thế thuộc về người bán.
Mặt trái của tư thương là khi bán thì gìm hàng, nâng giá lúc khan hiếm. Hộ nông dân với tư cách là người mua dịch vụ sẽ bị chèn ép về giá cả và chất lượng. Đối với hoạt động tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ đầu ra): Tương tự như vậy, hoạt động tiêu thụ sản phẩm của nông hộ diễn ra, thị trường lúc này trở thành thị trường của người mua, đặc điểm của thị trường này là ít người mua nhưng lại nhiều người bán, lợi thế lúc này lại thuộc về người mua – tư thương với vai trò là người mua sẽ gìm giá, ép giá thiệt thòi sẽ trút hết cho nông dân gánh chịu. Như vậy, việc hộ nông dân tự mình chống chọi và đương đầu với những quan hệ mua – bán trong cơ chế thị trường với sự chèn ép của tư thương như vậy thì dù mỗi người dân có cố gắng đến đâu, có làm việc cật lực đến mấy cũng không được đền đáp xứng đáng, đúng với công sức bỏ ra.
Vả lại, nếu tránh tình trạng chèn ép của tư thương, nông hộ tự mình đảm đương cả phần dịch vụ đầu vào, tự lo đầu ra sản phẩm sản xuất ra thì không đảm trách xuể hoặc nếu đảm trách thì hiệu quả không cao. Chỉ có một con đường đó là các nông hộ có cùng nhu cầu liên kết lại với nhau dưới những hình thức thích hợp thì mới tháo gỡ những khó khăn, hạn chế thiệt hại trong sản xuất và tiêu thụ, đảm bảo ổn định và nâng cao hiệu quả kinh tế hộ nông dân. Một trong những hình thức hoàn chỉnh nhất của các hình thức hợp tác trong nông nghiệp đó là Hợp tác xã nông nghiệp. 5 Hợp tác xã nông nghiệp ra đời đã trở thành “Hộ nông dân lớn”, một “Hộ nông dân chung” đứng ra làm dịch vụ cho mọi nhà.
Thể hiện: HTX NÔNG NGHIỆP DỊCH VỤ Phục vụ Mua Bán DỊCH VỤ ĐẦU VÀO KINH TẾ HỘ DỊCH VỤ ĐẦU RA Cung Cung Cung Cung Cung Bảo Thực ứng cấp ứng ứng ứng quản hiện giống dịch dịch vật tư chuyển sản tiêu thụ cây vụ vụ cày nông giao phẩm sản trồng, thuỷ xới nghiệp tiến bộ phẩm vật nông kỹ thuật… … nuôi 1.3 Cơ sở của sự ra đời và phát triển hợp tác xã nông nghiệp Thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng về phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; Trên cơ sở tổng kết thực tiễn kinh tế hợp tác ở nước ta nhất là kinh nghiệm phát triển hợp tác xã trong những năm đổi mới và kết hợp nghiên cứu tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của quốc tế về phát triển hợp tác xã để xây dựng mô hình hợp tác xã phù hợp với đặc điểm cụ thể của đất nước, tháng 3/1996 Quốc hội nước ta đã thông qua Luật hợp tác xã. Đây là cơ sở pháp lý cao nhất, Luật đã xác lập tư cách pháp nhân và tạo điều kiện khuyến khích phát triển hợp tác xã trên phạm vi toàn quốc và ở mọi lĩnh vực hoạt động. Sau khi Luật hợp tác xã có hiệu lực (01/01/1997), hàng loạt các văn văn bản dưới luật cũng được ban hành nhằm hoàn thiện và hỗ trợ hợp tác xã, chẳng hạn: Nghị định 43/CP về Điều lệ mẫu hợp tác xã nông nghiệp, Nghị định 15/CP về Chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã, Nghị định 16/CP về Chuyển đổi đăng ký hợp tác xã và tổ chức hoạt động của liên hiệp hợp tác xã, Nghị định 02/CP về Quản lý Nhà nước đối 6 với hợp tác xã. Ban bí thư Trung Ương đã có Chỉ thị 68CT/TW về phát triển kinh tế hợp tác trong các ngành, các lĩnh vực kinh tế….
Có thể nói hai văn bản quan trọng: Luật Hợp tác xã và Nghị định 43/CP đã là cơ sở pháp lý cần thiết cho sự ra đời và hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp, giúp hợp tác xã thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của mình.2 Nội dung quản lý tài chính hợp tác xã nông nghiệp 1.1 Khái niệm quản lý tài chính hợp tác xã nông nghiệp Để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ các hợp tác xã luôn có các hoạt động trao đổi, các điều kiện và kết quả sản xuất thông qua các công cụ tài chính và vật chất. Do vậy, bất kỳ hợp tác xã nào cũng phải tham gia vào các mối quan hệ tài chính đa dạng và phức tạp. Các mối quan hệ tài chính được chia thành các nhóm chủ yếu sau: Thứ nhất, quan hệ tài chính giữa hợp tác xã với thị trường tài chính và các tổ chức tài chính. Thể hiện trên các mặt hoạt động: · Hợp tác xã vay vốn của các tổ chức tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, các trung gian tài chính….
· Hợp tác xã tham gia các hoạt động đầu tư tài chính. Thứ hai, quan hệ tài chính giữa hợp tác xã với thị trường (hàng hoá và thị trường lao động) thông qua các quan hệ thanh toán cho các dịch vụ về hàng hoá và lao động. Thứ ba, quan hệ tài chính giữa hợp tác xã với Nhà nước để giải quyết các nghĩa vụ tài chính theo pháp luật. Thứ tư, quan hệ tài chính trong nội bộ hợp tác xã.
Đó là các khía cạnh tài chính liên quan đến vấn đề phân phối thu nhập và chính sách tài chính của hợp tác xã (Cơ cấu tài chính, chính sách tái đầu tư, chính sách lợi tức cổ phần, sử dụng ngân quỹ nội bộ trong hợp tác xã…) Như vậy, quản lý tài chính trong hợp tác xã nông nghiệp là sử dụng các công cụ và biện pháp tác động vào hoạt động tài chính của hợp tác xã (thể hiện ở các mối quan hệ tài chính) nhằm tạo điều kiện trợ giúp, kiểm soát quá trình kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong kinh doanh của hợp tác xã.2 Nội dung của công tác quản lý tài chính trong hợp tác xã nông nghiệp: 1.1 Tài chính trong hợp tác xã nông nghiệp: a.