CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ QUẢN LÝ VỐN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, vai trò, phân loại vốn trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn [1] Vốn là yếu tố quan trọng, cần thiết đầu tiên và bắt buộc phải có ở bất kỳ một DN nào ngay từ khi bắt đầu thực hiện quá trình SXKD. Để DN có thể huy động và sử dụng vốn có hiệu quả đòi hỏi các nhà quản lý phải hiểu rõ thế nào là vốn kinh doanh, nguồn hình thành và những đặc trưng, vai trò của vốn đối với Doanh nghiệp.
Theo David Begg, Stenley Fischer, Rudiger Dornbusch thì: Vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác. Ngoài ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn.
[1] Dưới góc độ của doanh nghiệp, vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản, kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác làm đầu vào cho quá trình sản xuất kinh doanh. Sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sản xuất riêng biệt, chia cắt, mà trong toàn bộ các quá trình sản xuất và tái sản xuất liên tục, suốt trong thời gian tồn tại của doanh nghiệp, từ khi bắt đầu quá trình sản xuất đầu tiên cho tới chu kỳ sản xuất cuối cùng. Qua các khái niệm trên cho thấy, DN dù hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Lượng vốn đó dùng để thực hiện các khoản đầu tư cần thiết như chi phí thành lập DN, chi phí mua sắm tài sản cố định, nguyên vật liệu.
vốn đưa vào SXKD có nhiều hình thái vật chất khác nhau để từ đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường, số tiền mà DN thu về sau đó tạo ra sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu thị trường. Số tiền mà DN thu về sau khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ phải bù đắp 5 được các chi phí bỏ ra, đồng thời phải có lãi. Quá trình này diễn ra liên tục đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Như vậy, có thể hiểu vốn là giá trị bằng tiền của toàn bộ tài sản của DN được dùng trong hoạt động SXKD nhằm mục đích kiếm lời.
Hiện nay, khái niệm vốn được sử dụng phổ biến là: vốn của doanh nghiệp thương mại là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản và các nguồn lực mà DN sử dụng trong hoạt động kinh doanh, bao gồm: Tài sản hiện vật như nhà kho, cửa hàng, hàng hóa dự trữ.; Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng và đá quý; Bản quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình khác. Vai trò của vốn Vốn là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của DN. Nếu không có vốn thì hoạt động SXKD của doanh nghiệp không thể tiến hành được, vốn còn là điều kiện để DN thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh và nó cũng là chất keo để chắp nối, kết dính các quá trình kinh tế. Vì vậy, vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động và phát triển của DN.
Cụ thể: - Vốn có vai trò quyết định trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình DN theo luật định. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời và tồn tại và phát triển của DN. Tùy theo nguồn của vốn cũng như phương thức huy động vốn mà DN có tên là Công ty Cổ phần, Công ty Trách nhiệm hữu hạn, DNNN, doanh nghiệp liên doanh,v. - Vốn là một trong số những tiêu thức để phân loại quy mô của DN, xếp loại DN vào loại lớn, nhỏ hay trung bình và là một trong những tiềm năng quan trọng để DN sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có và tương lai về sức lao động, nguồn cung ứng hàng hóa, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hóa.
- Trong cơ chế thị trường mở cửa, trong điều kiện mở rộng quyền tự chủ trong hoạt động SXKD, vốn bao giờ cũng là cơ sở, là tiền đề để doanh 6 nghiệp hoạch định các chiến lược và kế hoạch kinh doanh. Ngoài ra vốn còn liên kết các quan hệ kinh tế làm cho cỗ máy kinh tế hoạt động có hiệu quả. - Vốn của doanh nghiệp là yếu tố giá trị. Nó chỉ phát huy được tác dụng khi bảo tồn được và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Nếu vốn không được bảo toàn và tăng lên sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì vốn đã bị thiệt hại, đó là hiện tượng mất vốn. Sự thiệt hại lớn sẽ dẫn đến DN mất khả năng thanh toán sẽ làm cho DN bị phá sản, như vậy vốn đã bị sử dụng một cách lãng phí. Như vậy vai trò của vốn rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển DN, thực tiễn nền kinh tế trong những năm qua cũng cho thấy DN nào có lượng vốn càng lớn thì càng có thể chủ động trong kinh doanh. Ngược lại DN nào thiếu vốn kinh doanh không có chiến lược tài trợ trước mắt cũng như lâu dài thường đánh mất cơ hội kinh doanh, cũng như vai trò của mình trên thị trường.
Nếu DN để mất bạn hàng thường xuyên ổn định sẽ không tạo ra sức mạnh và hiệu quả tổng hợp trong kinh doanh. Phân loại vốn Dựa vào quan hệ sở hữu vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. - Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ DN, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định bằng công thức: Vốn chủ sở hữu = Giá trị tổng tài sản - Nợ phải trả - Nợ phải trả là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ mà DN có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác như: Nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, cho Nhà nước, cho người lao động trong doanh nghiệp.
Để hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, thông thường một DN phải phối hợp cả hai nguồn: Vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Sự kết hợp giữa hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của ngành mà DN hoạt động, tùy thuộc 7 vào quyết định của người quản lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của DN. Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. - Nguồn vốn tạm thời: Là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của DN.
Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác. - Nguồn vốn thường xuyên: Là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà DN có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành TSCĐ và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của DN. Dựa vào phạm vi huy động vốn, có thể chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài.
- Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân DN tạo ra. Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của DN. Nguồn vốn bên trong của DN bao gồm: Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư. Đây là nguồn tăng thêm tài sản và nguồn vốn của công ty.
- Nguồn vốn bên ngoài bao hàm một số nguồn vốn chủ yếu sau: Vay người thân (đối với DN tư nhân); vay ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác; góp vốn liên doanh, liên kết; tín dụng thương mại của nhà cung cấp; thuê tài sản; huy động vốn bằng phát hành chứng khoán (đối với một số loại hình DN được pháp luật cho phép). Dựa vào việc sử dụng vốn, vốn được chia làm hai bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động. 8 - Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, hay vốn cố định là toàn bộ giá trị ứng ra để đầu tư vào các TSCĐ nhằm phục vụ cho hoạt động SXKD của DN. [19] + TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị.
[19] + TSCĐ vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh như bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả, thương hiệu. [19] Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, việc mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ của DN đều phải thanh toán, chi trả bằng một số tiền, số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các TSCĐ hữu hình và vô hình được gọi là vốn cố định, vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn doanh nghiệp. Quy mô vốn cố định nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến quy mô TSCĐ, trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ, năng lực sản xuất kinh doanh của DN. - Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của TSNH đó là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSNH phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh.
Giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch thành toàn bộ một lần vào trong lưu thông và từ trong lưu thông nó lại được thu hồi toàn bộ sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Phần lớn tiền của DN được gửi tại ngân hàng, ngoài ra còn một phần nhỏ tồn tại dưới dạng tiền mặt được bảo quản trong các DN dùng để chi trả các khoản nhỏ, thường xuyên. 9 + Các khoản phải thu: là những khoản tiền vốn của DN nhưng do quan hệ thanh toán các đơn vị, cá nhân khác còn giữ chưa trả, DN phải thu về (phải thu khách hàng, tiền tạm ứng chưa thanh toán.