phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan về QLTC và QLTC bệnh viện công - Chƣơng 2: Thực trạng công tác QLTC tại BVĐK tỉnh Sóc Trăng - Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLTC tại BVĐK tỉnh Sóc Trăng 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN. Khái niệm, đặc điểm và mục tiêu QLTC bệnh viện: QLTC bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hƣớng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tƣợng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nƣớc về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện. Ở Việt Nam, QLTC bệnh viện là một nội dung của chính sách kinh tế- tài chính y tế do Bộ Y tế chủ trƣơng với trọng tâm là sử dụng các nguồn lực đầu tƣ cho ngành y tế để cung cấp các dịch vụ y tế một cách hiệu quả và công bằng.
Tính hiệu quả chú trọng đến trình độ trang thiết bị kỹ thuật, phƣơng pháp phân phối nguồn lực, hiệu lực quản lý hành chính và chất lƣợng dịch vụ y tế cung cấp cho nhân dân. Tính công bằng đòi hỏi cung cấp dịch vụ y tế bằng nhau cho những ngƣời có mức độ bệnh tật nhƣ nhau, thoả mãn nhu cầu khám chữa bệnh của mọi ngƣời khi ốm đau theo một mặt bằng chi phí nhất định không mà không đòi hỏi khả năng chi trả của ngƣời bệnh là điều kiện tiên quyết. Do vậy, QLTC trong bệnh viện ở Việt Nam đƣợc định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn, tài sản, vật tƣ của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Mục tiêu của QLTC trong bệnh viện: Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của QLTC bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lý mới – tiến tới hạch toán chi phí.
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh: thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn nhƣ: tỉ lệ tử vong, tỷ lệ tái khám … 5 Nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên đƣợc cải thiện, cải thiện phƣơng tiện làm việc, xây dựng văn hóa Bệnh viện. Phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa. Công bằng y tế: chất lƣợng phục vụ nhƣ nhau cho toàn bộ các đối tƣợng BỆNH NHÂN 2. Công bằng y tế Y TẾ NHÀ NƢỚC NHÂN VIÊN B.
Phát triển BV 3. Đƣợc hài lòng BAN GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN 1.Cán cân thu chi Hình 1.1: Mục tiêu QLTC trong bệnh viện Nhƣ vậy, QLTC bệnh viện phải đáp ứng cùng lúc bốn đối tác: Bệnh nhân, nhân viên trong bệnh viện, Ban Giám đốc bệnh viện và Nhà nƣớc. Đó là: Với bệnh nhân: chất lƣợng chăm sóc và công bằng y tế Với nhân viên: đƣợc hài lòng do đời sống đƣợc cải thiện. Yêu cầu của Ban giám đốc: hoàn thành trách nhiệm thực hiện cán cân thu chi.
Y tế Nhà nƣớc : phát triển bệnh viện. Nhìn chung trong điều kiện kinh tế nƣớc ta nhƣ hiện nay, mục tiêu của QLTC bệnh viện phải cùng lúc đạt đƣợc năm mục tiêu trên. Tuy nhiên ở một số vùng sâu, vùng xa, gặp nhiều khó khăn thì phải sắp xếp thứ tự của ƣu tiên nào cần phấn đấu trƣớc. Quản lý các nguồn tài chính của Bệnh viện: Quản lý các nguồn tài chính trong bệnh viện của Việt Nam gồm: Quản lý, sử dụng nguồn kinh phí NSNN cấp và các nguồn đƣợc coi là NSNN cấp nhƣ : viện phí, bảo hiểm y tế, viện trợ… theo đúng quy định của Nhà nƣớc.
Nguồn thu khác, dịch vụ,. Tăng nguồn thu hợp pháp, cân đối thu chi, sử dụng các khoản chi có hiệu quả, chống lãng phí, thực hành tiết kiệm. Thực hiện chính sách ƣu đãi và đảm bảo công bằng về khám, chữa bệnh cho các đối tƣợng chính sách xã hội và ngƣời nghèo, hộ cận nghèo. Từng bƣớc tiến tới hạch toán chi phí và giá thành khám chữa bệnh.
Quy định về cơ chế tài chính đối với các đơn vị y tế công lập: Thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ qui định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định số 85/2012/NĐ-CP của Chính phủ : Về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập. Tùy theo nguồn tỷ lệ giữa thu và chi mà đơn vị đƣợc phân loại , loại hình tự chủ: - Đơn vị đƣợc NSNN đảm bảo toàn bộ - Đơn vị tự đảm bảo một phần kinh phí - Đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động thƣờng xuyên - Đơn vị tự đảm bảo kinh phí hoạt động thƣờng xuyên và đầu tƣ phát triển. Tuân thủ Luật NSNN (2002), Luật kế toán (2003) 7 Việc sử dụng và quyết toán các nguồn kinh phí trong đơn vị thực hiện theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC, ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Bộ Tài chính: “Về việc ban hành Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp”; Thông tƣ 185/2010/TT- BTC về việc hƣớng dẫn sửa đổi, bổ sung Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo Quyết định số 19/2006/Qđ-BTC, ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Bộ Tài chính; Hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, sử dụng và quyết toán của Chính phú, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Nội vụ và Bộ lao động –Thƣơng binh và xã hội.
NỘI DUNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BỆNH VIỆN: Nội dung QLTC trong bệnh viện ở Việt Nam gồm: Lập kế hoạch, dự toán cân đối thu chi. Thực hiện dự toán. Hạch toán, quyết toán. Thanh tra, kiểm tra, đánh giá.
Lập kế hoạch, dự toán thu, chi Lập kế hoạch dự toán thu, chi là một công việc bắt buộc và hết sức quan trọng, thông qua các nghiệp vụ tài chính để cụ thể hoá định hƣớng phát triển, kế hoạch hoạt động ngắn hạn và giai đoạn của bệnh viện, trên cơ sở tăng nguồn thu hợp pháp và vững chắc, đảm bảo đƣợc hoạt động thƣờng xuyên của bệnh viện, đồng thời từng bƣớc củng cố và nâng cấp cơ sở vật chất của bệnh viện, tập trung đầu tƣ đúng mục tiêu ƣu tiên nhằm đạt hiệu quả cao, hạn chế tối đa lãng phí và tiêu cực, từng bƣớc tính công bằng trong sử dụng các nguồn đầu tƣ cho bệnh viện. Một số nội dung đặt ra khi xây dựng kế hoạch, dự toán: - Tình hình thực hiện năm qua, thời gian qua có gì còn tồn tại - Giải quyết các vấn đề tồn tại cần ƣu tiên - Đề ra các mục tiêu để giải quyết các vấn đề ƣu tiên đó - Khi thực hiện các giải pháp đó cần thông qua hoạt động cụ thể nào 8 Khi xây dựng dự toán thu chi của bệnh viện cần căn cứ vào: - Phƣơng hƣớng nhiệm vụ của đơn vị - Chỉ tiêu, kế hoạch có thể thực hiện đƣợc - Kinh nghiệm thực hiện các năm trƣớc - Khả năng NSNN cho phép - Khả năng cung cấp vật tƣ của Nhà nƣớc và của thị trƣờng - Khả năng tổ chức quản lý và kỹ thuật của đơn vị Ví dụ: Việc lập kế hoạch, dự toán thu chi của bệnh viện Đa Khoa Sóc Trăng đƣợc thực hiện nhƣ sau : - Phòng kế hoạch- nghiệp vụ: căn cứ vào số liệu tổng kết năm trƣớc về: Chỉ tiêu giƣờng bệnh, thực sử dụng, công suất sử dụng giƣờng bệnh, số lƣợt khám và điều trị nội trú, ngoại trú, số lƣợt sử dụng các dịch vụ cận lâm sàng ( Siêu âm, điện tim, X-quang, xét nghiệm ), thủ thuật, phẫu thuật,. - Khoa Dƣợc - cận lâm sàng: Căn cứ danh mục, số lƣợng thuốc đƣợc phép sử dụng điều trị trong bệnh viện, hóa chất, vật tƣ y tế năm qua ,. căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch về chuyên môn năm nay lập nhu cầu kinh phí cho các nội dung này.
- Phòng Tổ chức cán bộ: căn cứ tình hình số lƣợng cán bộ sử dụng năm qua, phƣơng hƣớng thực hiện năm tới , thể hiện rỏ số lƣợng tăng, giảm, điều chuyển. để có kế hoạch lập quỹ tiền lƣơng cho năm tới. - Phòng Tài chính -Kế toán: Thực hiện nhiệm vụ tổng hợp các dữ liệu , thông tin, báo cáo,. của các bộ phận , khoa phòng (nêu trên ) tiến hành lập dự toán tổng nguồn năm hiện hành : a.
Dự toán nguồn thu 1- NSNN cấp (kinh phí thường xuyên và đầu tư XDCB) Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về NSNN cấp cho bệnh viện ở Việt Nam. Nhìn chung, các nguồn đầu tƣ kinh phí cho bệnh viện thông qua kênh phân bổ của Chính phủ đƣợc coi là NSNN cấp cho bệnh viện. Theo đó, ngân sách cho bệnh 9 viện có thể bao gồm chi sự nghiệp và đầu tƣ xây dựng cơ bản từ NSNN, chi từ bảo hiểm y tế, thu viện phí và viện trợ nƣớc ngoài… Tuy nhiên, nguồn NSNN cấp cho bệnh viện ở đây được định nghĩa là khoản chi cho bệnh viện từ NSNN cấp cho sự nghiệp y tế, cân đối từ nguồn thuế trực thu và thuế gián thu. Bao gồm các khoản chi đầu tư, chi vận hành hệ thống.
Ở Việt Nam, hiện nay hàng năm các bệnh viện công nhận đƣợc một khoản kinh phí đƣợc cấp từ ngân sách của Chính phủ căn cứ theo định mức tính cho một đầu giƣờng bệnh/năm nhân với số giƣờng bệnh kế hoạch của bệnh viện. Số kinh phí này thƣờng đáp ứng đƣợc từ 30 đến 50% nhu cầu chi tiêu tối thiểu của bệnh viện. Các Bệnh viện căn cứ lập dự toán thu, chi nguồn ngân sách cấp: Căn cứ nghị Quyết Hội đồng Nhân dân tỉnh, thành phố về phân bổ kinh phí cho ngành y tế, đối với đơn vị điều trị (bệnh viện ): định mức/ giƣờng bệnh ( bao gồm tiền lƣơng, phụ cấp, các khoản đóng góp cho ngƣời lao động và một phần chi phí / giƣờng bệnh. Tuy nhiên, tùy theo nguồn thu của của tỉnh, khả năng cân đối đáp ứng cho ngành y tế nên định mức này cũng có chênh lệch giữa các tỉnh trong khu vực.