CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NỢ THUẾ VÀ CƯỠNG CHẾ NỢ THUẾ 1. Những vấn đề cơ bản về nợ thuế và quản lý nợ thuế 1. Khái niệm nợ thuế và quản lý nợ thuế Trước khi tiếp cận khái niệm nợ thuế, cần tìm hiểu khái niệm thuế. Có nhiều cách hiểu khác nhau đề cập về “Thuế”.
Dưới đây là một số trích dẫn tiêu biểu: Theo giáo trình Thuế của Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội tái bản năm 2015: “Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời gian được pháp luật quy định nhằm sủ dụng cho mục đích công cộng”. Theo điều 4, Luật số 78/2006/QH11 của Quốc hội: “Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế.” Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Thuế là số tiền thu của các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch, tài sản) nhằm huy động tài chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối nguồn thu nhập, hay nhằm điều tiết các hoạt động kinh tế-xã hội”.
Như vậy có thể hiểu: Thuế là khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với Nhà nước. Thuế là một hình thức động viên tài chính ra được ra đời cùng với sự ra đời của bộ máy nhà nước. Thuế và các chính sách thuế gắn liền với các chính sách kinh tế xã hội, là một bộ phận quan trọng cấu thành chính sách tài chính 5 của một quốc gia. Nhà nước sử dụng công cụ thuế để điều tiết nền kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội, đặc biệt là tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN.
Đặc trưng cơ bản nhất của thuế là mang tính bắt buộc, tính pháp lý cao, NNT phải có nghĩa vụ chuyển giao khoản nộp bắt buộc đó vào NSNN. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau, có thể là do bản thân pháp luật cho phép NNT được nợ thuế trong những thời hạn nhất định, những nguyên nhân chủ quan và khách quan khác làm cho NNT chưa nộp hoặc không nộp thuế cho Nhà nước theo thời hạn quy định của pháp luật, từ đó hình thành nên khoản nợ thuế. Do đó, trong quá trình quản lý thuế, việc quản lý nợ thuế được đặc biệt chú trọng nhằm đảm bảo thu đúng thu đủ, thu kịp thời số thuế phải nộp của NNT vào NSNN. Để hiểu rõ hơn về QLN và CCNT, trước hết chúng ta đi tìm hiểu một số khái niệm sau: Tiền nợ thuế: Là số tiền thuế được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Người nợ thuế: Là các tổ chức, cá nhân còn nợ các loại thuế, phí, lệ phí, các khoản phải nộp khác theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật. Khoản nợ: Là số tiền nợ thuế được cơ quan có thẩm quyền xác định tại một thời điểm theo từng lần phát sinh phải nộp của một NNT nhất định. Mức nợ: Là số tiền thuế còn nợ của người nộp thuế tại một thời điểm, ở một ngưỡng nhất định nào đó khi phân loại nợ thuế. Tuổi nợ: Là khoảng thời gian liên tục tính từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm khoản nợ đó được xác định tuổi.
Tuổi nợ được tính theo ngày bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ. 6 Thời điểm bắt đầu tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày tiếp theo ngày hết hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Thời điểm kết thúc tính nợ đối với một khoản thuế nợ là ngày khoản nợ được nộp vào ngân sách nh à nước; hoặc ngày có hiệu lực thi hành của văn bản xoá nợ, miễn nộp hoặc xử lý bằng các hình thức khác. Tiền phạt chậm nộp thuế: Là khoản tiền phạt được tính trên số tiền thuế nợ và số ngày nợ thuế của một khoản nợ.
Số ngày nợ thuế của một khoản nợ là khoảng thời gian liên tục tính theo ngày kể từ thời điểm bắt đầu tính nợ đến thời điểm số tiền nợ đó được nộp vào ngân sách nhà nước, bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ theo Bộ Luật Lao động. Quản lý nợ thuế l à công việc theo dõi, nắm bắt thực trạng nợ thuế và các khoản thu khác do cơ quan thuế quản lý và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu hôi số thuế nợ của NNT. Bộ phận quản lý nợ: ở Tổng cục Thuế là Ban quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, ở cục Thuế là phòng quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, ở Chi cục Thuế là đội quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế. Đặc điểm của nợ thuế Nợ thuế là hành vi tâm lý phổ biến Do đặc điểm của thuế là có tính bắt buộc,mọi người phải có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của Nhà nước.
Như vậy hành vi nộp thuế luôn luôn ảnh hưởng đến lợi ích của NNT, dẫn đến tình trạng NNT có xu hướng trốn hoặc tránh thuế. Điều này xảy ra cả trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt Việt Nam là một nước đang phát triển, kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, nhận thức về thuế, vai trò, lợi ích của thuế còn kém thì tâm lý tìm mọi cách để trốn, tránh thúê, gây nợ thuế xảy ra khá phổ biến. Nợ thuế quá hạn là hành vi vi phạm pháp luật thuế 7 Nợ thuế quá hạn là NNT chậm nộp hoặc không nộp số tiền thuế phải nộp vào NSNN theo thời hạn quy định của pháp luật thuế. Quy đinh của pháp luật thuế có đề cập đến các vấn đề như: Mức nộp thuế, NNT và thời hạn nộp thuế.
Vì vậy hành vi nợ thuế quá hạn là hành vi vi phạm pháp luật thuế. Nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế Tiền nợ thuế: Là số tiền thuế được xác định phải nộp vào Ngân sách Nhà nước nhưng đã quá thời hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp vào Ngân sách Nhà nước. Trốn thuế là hành vi cố ý vi phạm pháp luật của đối tượng nộp thuế bằng mọi hình thức, thủ đoạn để làm giảm số thuế phải nộp vào NSNN. Nợ thuế mới chỉ là hành vi chây ỳ, chậm nộp thuế, việc nộp thuế là một hành vi nằm trong chuỗi hành vi nhằm trốn thuế, vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó cũng có một số trường hợp nợ thuế do bản thân pháp luật thuế cho phép NNT được nợ thuế trong những thời hạn nhất định. Do vậy nợ thuế chưa hẳn là hành vi trốn thuế. Phân loại nợ thuế Phân loại nợ thuế là việc phân chia nợ thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất định. Phân loại nợ thuế nhằm giúp cơ quan thuế xác định được nguyên nhân, tình trạng, tuổi nợ của từng khoản nợ thuế, qua đó có thể áp dụng các biện pháp quản lý thu nợ, đôn đốc nợ thuế có hiệu quả.
Căn cứ vào khả năng thu hồi tiền nợ thuế dựa trên những thông tin về người nợ thuế theo các tiêu thức đã phân tích, công chức được phân công theo dõi quản lý nợ tiến hành phân loại nợ thuế. Các cách phân loại nợ thuế: có 6 cách phân loại nợ thuế a) Căn cứ vào thời gian nợ: gồm nợ trong hạn và nợ quá hạn. Nợ trong hạn: bao gồm các khoản nợ thuế vẫn còn trong thời hạn nộp thuế. Chẳng hạn như nợ thuế trong thời gian ân hạn thuế, nợ thuế được gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật.
8 Nợ quá hạn: là những khoản nợ đến hạn trả theo quy định của pháp luật hoặc theo thông báo hoặc được ghi trên quyết định của cơ quan thuế đến hạn nộp mà chưa nộp. Tuỳ theo yêu cầu quản lý, nợ quá hạn có thể được phân loại chi tiết hơn theo mức độ quá hạn để có biện pháp quản lý và đôn đốc thu nợ thuế phù hợp. b) Căn cứ vào nội dung nợ Nợ thuế, phí thông thường: Gồm các khoản nợ phát sinh từ số thuế, phí phải nộp do NNT kê khai với CQT mà không bao gồm số thuế, phí bị truy thu, bị phạt chậm nộp do CQT thanh tra, kiểm tra phát hiện. Nợ phạt thuế, phí: Ứng với từng nội dung vi phạm có các khoản nợ phát sinh cho từng lần vi phạm như nợ do phạt nộp chậm, nợ phạt thiếu thuế phải nộp, nợ phạt trốn thuế, nợ phạt vi phạm thủ tục về thuế.
Nợ thuế, phí truy thu phải nộp sau thanh tra, kiểm tra: Đây là khoản thuế mà CQT sau quá trình kiểm tra, thanh tra đã phát hiện thêm số thuế phải nộp mà đơn vị bỏ ngoài sổ sách, không kê khai hoặc kê khai không chính xác ở tất cả các loại hồ sơ kê khai thuế trong năm tính thuế. Ở thời điểm CQT tiến hành thanh tra, kiểm tra, theo quy định số thuế này đã phải nộp vào NSNN nhưng có thể do vô tình hoặc cố ý đã kê khai sai để trốn thúê, Số nợ này được coi là nợ của những NNT được thanh tra, kiểm tra. c) Căn cứ khả năng thu hồi nợ - Nợ có khả năng thu: là số tiền nợ thuế của ngưòi nợ thuế được xác định phải nộp vào NSNN nhưng còn trong thời hạn nộp thuế hoặc đã hết hạn nộp theo quy định của pháp luật mà chưa nộp và không thuộc các trường hợp nợ thuộc nhóm nợ khó thu và nợ không có khả năng thu. Nợ thuế trong nhóm này là nợ của những người vẫn đang lao động hoặc tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bình thuờng, không có dấu hiệu bất thường trong chấp hành pháp luật thuế, không lâm vào tình trạng quá khó khăn dẫn đến không có khả năng nộp thuế.
Bao gồm các khoản nợ thuộc các trường hợp sau: 9 + Nhóm tiền thuế nợ đến 90 ngày: là số tiền thuế đã quá thời hạn nộp từ 01 đến 90 ngày nhưng người nộp thuế chưa nộp vào NSNN và không thuộc nhóm tiền thuế nợ khó thu, tiền thuế nợ chờ xử lý, tiền thuế đã nộp NSNN đang chờ điều chỉnh, tiền thuế nợ trên 90 ngày; bao gồm cả tiền thuế nợ đang có khiếu nại, khiếu kiện.