CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁ SẢN VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã và vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường 1. Khái quát về phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã Phá sản doanh nghiệp là hiện tượng một doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh thương mại, nhưng vì một lý do nào đó (quản lý kém, bị thiên tai, hỏa hoạn.) nên không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn. Nguồn gốc của thuật ngữ phá sản được giải thích theo nhiều quan niệm khác nhau.
Ở các nước châu Âu, khi nói đến phá sản người ta thường dùng thuật ngữ“Bankruptcy” hoặc “Banqueroute”. Từ này bắt nguồn từ chữ Banca Rotta trong tiếng La Mã cổ có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy”. Thời đó, các thương gia của thành phố thường tập trung lại thành “hội nghị các thương gia”, thương gia nào mất khả năng thanh toán nợ cũng đồng thời mất luôn quyền tham gia hội nghị, do đó ghế của thương gia này bị đem ra khỏi hội trường. Tiếng la - tinh phá sản được hiểu là chữ “ruin”, có nghĩa là “sự khánh tận”.
Khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và chi của một doanh nghiệp. Biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối ấy là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Đứng dưới khía cạnh kinh tế thì phá sản xảy ra khi tổng số nợ lớn hơn tổng số sản có. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, một doanh nghiệp chỉ coi là phá sản khi có quyết định của toà án về việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp.
Kể từ khi có quyết định tuyên bố phá sản, doanh nghiệp mới thực sự chấm dứt hoạtđộng. Chính vì thế, việc thương nhân (pháp nhân, thể nhân) lâm vào tình trạng phá sản là căn cứ để Tòa án ra quyết định 5 mở thủ tục phá sản. Quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp của Tòa án gây hậu quả xấu về nhiều mặt cho nhiều đối tượng, nhất là cho con nợ. Ví dụ, quyết định mở thủ tục phá sản có thể ảnh hưởng xấu đế danh dự, uy tín của nhà kinh doanh trên thương trường, đồng thời hạn chế quyền quản lý tài sản và quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ.
Chính vì vậy, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản và doanh nghiệp bị phá sản có nhiều điểm khác nhau, cụ thể là: - Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp đang rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và có thể bị toà án tuyên bố phá sản, tuy nhiên nó cũng có cơ hội được phục hồi; trong khi đó doanh nghiệp bị phá sản là doanh nghiệp đã bị toà án ra quyếtđịnh tuyên bố phá sản (phù hợp với các quyđịnh của pháp luật), nó sẽ không còn cơ hội được phục hồi và phải xoá đăng ký kinh doanh sau khi đã hoàn tất thủ tục thanh toán. - Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ mới bị hạn chế một số quyền nhất định đối với tài sản và một số quyền lợi ích khác (ví dụ : quyền định đoạt tài sản, quyền ký kết các hợp đồng.); còn doanh nghiệp bị phá sản là doanh nghiệp đã bị tước bỏ toàn bộ quyền hành trên các lĩnh vực hoạt động và tài sản bị thanh toán bắt buộc cho các chủ nợ theo pháp luật. Về mặt pháp lý, việc xác định thời điểm doanh nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản là rất quan trọng đối với cả chủ nợ lẫn bản thân doanh nghiệp mắc nợ. Nếu việc xác định thời điểm coi là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản quá trễ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của các chủ nợ trong cơ hội đòi nợ.
Chính vì thế, việc xác định tiêu chí nào để xác định doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản và có thể bị khởi đơn ra tòa để tiến hành xử lý theo thủ tục phá sản có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với một văn bản luật phá sản. Phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của pháp Luật Phá sản các nước, Luật Phá sản Việt Nam đã đưa ra tiêu chí xác định doanh 6 nghiệp lâm vào tình trạng phá sản tại Điều 3 như sau: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản’’. Như vậy, căn cứ để xác định doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản theo pháp luật Việt Nam hiện hành là phải thỏa mãn cả hai điều kiện: - Doanh nghiệp, hợp tác xã có các khoản nợ đến hạn. - Chủ nợ đã có yêu cầu đòi nợ (ví dụ có giấy đòi nợ.) nhưng không được thanh toán.
Tóm lại, bản chất của “tình trạng phá sản” là việc con nợ không có khả năng thanh toán các món nợ đến hạn của mình. Vì vậy, về cơ bản, khi con nợ ngừng trả nợ thì coi như là đã lâm vào tình trạng phá sản và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lý để làm đơn yêu cầu tòa án thụ lý và giải quyết vụ việc phá sản mà họ là nguyên đơn.Vai trò của pháp luật phá sản trong nền kinh tế thị trường Pháp luật phá sản là công cụ bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Trong kinh doanh, việc nợ nần lẫn nhau là hiện tượng bình thường, ít doanh nghiệp nào có thể tránh khỏi. Khi có nợ thì chủ nợ đương nhiên có quyền đòi nợ thông qua nhiều hình thức, biện pháp khác nhau, trong đó có biện pháp khởi kiện ra Toà án.
Tuy nhiên, việc đòi nợ bằng con đường kiện tụng ra Toà dân sự, Toà kinh tế nhiều khi không thể giải quyết được một cách thoả đáng quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà kinh doanh. Vì vậy, bên cạnh tố tụng dân sự và tố tụng kinh tế với tư cách là các thủ tục đòi nợ thông thường, Nhà nước phải thiết kế thêm một cơ chế đòi nợ đặc biệt nữa để các chủ nợ, khi cần thì có thể sử dụng để đòi nợ, đó là thủ tục phá sản. Tính ưu việt của cơ chế đòi nợ thông qua thủ tục phá sản là ở chỗ, việc đòi nợ được bảo đảm bằng việc Toà án có thể tuyên bố chấm dứt sự tồn tại của con nợ và 7 thông qua đó mà bán toàn bộ tài sản của nó để trả cho các chủ nợ. Mặc dù ngày nay, tố tụng phá sản còn phải thực hiện thêm một số mục tiêu nữa, trong đó có mục tiêu giúp doanh nghiệp mắc nợ phục hồi (tức là bảo vệ cả lợi ích của con nợ) nhưng về cơ bản, tố tụng phá sản từ khi ra đời đến nay vẫn là loại tố tụng tư pháp được đặt ra nhằm trước hết và chủ yếu là để bảo vệ lợi ích của các chủ nợ.
Việc ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích của các chủ nợ đã làm cho thủ tục phá sản trở thành một công cụ pháp lý có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy hoạt động đầu tư của các nhà kinh doanh. Từ khi có Luật phá sản, các nhà kinh doanh sẽ yên tâm hơn vì các món nợ của họ đã có một cơ chế tốt hơn để được bảo vệ. Pháp luật phá sản Việt Nam đã thể hiện rất rõ sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ. Điều này được thể hiện qua hàng loạt các quy định pháp luật liên quan đến quyền năng của chủ nợ như: quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục giải quyết phá sản, quyền khiếu nại Danh sách chủ nợ, quyền có đại diện trong thiết chế quản lý tài sản và thanh toán tài sản, quyền đề xuất phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ, quyền được khiếu nại quyết định tuyên bố phá sản.
Pháp luật phá sản bảo vệ lợi ích của con nợ, tạo cơ hội để con nợ rút khỏi thương trường một cách trật tự. Khi mới xuất hiện, pháp luật phá sản không đặt ra vấn đề bảo vệ con nợ. Lúc đó, người ta cho rằng, phá sản là một tội phạm và người gây ra sự phá sản là một phạm nhân, do đó, họ không những không được bảo vệ mà còn bị trừng phạt bằng nhiều hình thức, kể cả việc tử hình. Ngày nay, quan niệm về việc kinh doanh đã được thay đổi, do đó, cách ứng xử của Nhà nước và pháp luật đối với con nợ lâm vào tình trạng phá sản cũng đã được thiết kế theo hướng tích cực, có lợi cho con nợ.
Hoạt động kinh doanh là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Do sự biến động khó lường của thị trường và các yếu 8 tố khách quan khác nên tình trạng kinh doanh thua lỗ, không trả được nợ đến hạn đều có thể xảy ra bất cứ lúc nào đối với bất kỳ nhà kinh doanh nào. Mặt khác, một doanh nghiệp bị phá sản thì có thể kéo theo nhiều hậu quả xấu đối với xã hội, mà trước hết là đối với người lao động và các chủ nợ. Chính vì vậy mà ngày nay, khi các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản thì vấn đề đầu tiên mà Nhà nước quan tâm giải quyết không phải là việc tuyên bố doanh nghiệp phá sản ngay và phân chia tài sản của nó cho các chủ nợ mà là việc phải tìm mọi cách để giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn này.
Điều đó giải thích tại sao, pháp luật của đa số các nước đều quy định nhiều hình thức phục hồi khác nhau để doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản lựa chọn, áp dụng. Pháp luật phá sản Việt Nam cũng đã được xây dựng theo khuynh hướng này. Luật Phá sản 2004 đã không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ mà còn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cả doanh nghiệp mắc nợ và đặc biệt là đã không coi phá sản là một tội phạm như quan niệm của một số nước trên thế giới. Điều này có thể thấy qua việc pháp luật quy định hàng loạt những quyền cho doanh nghiệp mắc nợ trong quá trình giải quyết phá sản.
Chẳng hạn, kể từ thời điểm Toà án ra quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, tất cả quyền đòi nợ đều được đình chỉ và giải quyết theo một thủ tục chung duy nhất do Toà án tiến hành, đồng thời nghiêm cấm việc đòi nợ một cách riêng lẻ.