Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM CỦA PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại khi hàng rào thuế quan trên thế giới đang chịu sức ép cắt giảm, các nước bắt đầu chú ý nhiều tới các biện pháp phòng vệ đối với hàng hóa sản xuất trong nước. Dù tồn tại nhiều quan niệm khác nhau, tuy nhiên trong lĩnh vực thương mại quốc tế, biện pháp phòng vệ có thể được gói gọn lại là tất cả các biện pháp Chính phủ sử dụng nhằm hạn chế các dòng mậu dịch giữa lãnh thổ nước này với lãnh thổ nước khác. Mặc dù có thể khác nhau về bản chất, các biện pháp này đều được áp dụng nhằm mục tiêu bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trên thị trường nội địa của nước nhập khẩu.
Ở thời điểm hiện tại, nói đến các biện pháp phòng vệ có thể được xem là nhắc đến các biện pháp liên chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Phòng vệ thương mại theo đó được hiểu là những biện pháp ngăn chặn, hạn chế (áp thuế bổ sung, quy định hạn ngạch…) áp dụng đối với hàng hóa xuất khẩu từ nước này sang nước kia, được nước nhập khẩu áp dụng sau một quá trình điều tra mà kết quả hội đủ ba điều kiện: (i) Có hiện tượng bán phá giá hoặc bán hàng có trợ cấp hoặc nhập khẩu ồ ạt; (ii) ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu chứng minh được thiệt hại; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá, bán hàng trợ cấp hay nhập khẩu ồ ạt tới ngành hàng sản xuất trong nước của nước nhập khẩu. Hoạt động này được WTO cho phép các nước nhập khẩu sử dụng để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ các nước xuất khẩu. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ, không phải là WTO áp dụng các hình thức này mà là bản thân các nước nhập khẩu, đây là mối quan hệ giữa các nước xuất khẩu với nước nhập khẩu.
9 z Các biện pháp phòng vệ thương mại với bản chất được hiểu là những biện pháp ngăn chặn, hạn chế đối với hàng hóa xuất khẩu, được nước nhập khẩu áp dụng sau một quá trình điều tra mà kết quả: (i) có hiện tượng bán phá giá hoặc bán hàng có trợ cấp hoặc nhập khẩu ồ ạt; (ii) ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu chứng minh được thiệt hại; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá, bán hàng trợ cấp hay nhập khẩu ồ ạt tới ngành hàng sản xuất trong nước của nước nhập khẩu, do vậy chúng có ý nghĩa vô cùng quan trọng và được xem như công cụ bảo hộ hợp pháp của các nước nhập khẩu trong việc ngăn ngừa tác động tiêu cực của hàng hóa xuất khẩu cũng như bảo vệ ngành sản xuất của nước nội địa. Đây là các công cụ bảo hộ hợp pháp được thừa nhận và đang ngày càng phát huy vai trò trong thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng có vai trò tạo ra một môi trường cạnh tranh bình đẳng, công bằng, lành mạnh, thúc đẩy hàng hóa phát triển, tạo điều kiện cho tự do hóa thương mại. Với việc được công nhận và hợp thức hóa trong các Hiệp định của WTO, các biện pháp phòng vệ thương mại đang ngày càng được áp dụng một cách có hiệu quả và là một “van an toàn” cho các quốc gia thành viên sử dụng để tạo ra một sân chơi thương mại bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh. Các biện pháp phòng vệ thương mại do vậy còn có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích tự do hóa thương mại phát triển và góp phần thúc đẩy xây dựng một nền kinh tế quốc tế phát triển ổn định, lành mạnh hơn.
MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÒNG VỆ THƢƠNG MẠI PHỔ BIẾN Trong thương mại quốc tế, các biện pháp phòng vệ thương mại chính đáng được hiểu như các công cụ áp dụng nhằm mục đích bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp trên thị trường nội địa của nước nhập khẩu trong một giai đoạn nhất định trước sự xâm nhập và cạnh tranh không công bằng của hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Các biện pháp này nhìn chung bao gồm các biện pháp tự vệ, chống bán phá giá và chống trợ cấp. 10 z Trong thương mại quốc tế, biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ được coi là ba cột trụ của hệ thống các biện pháp phòng vệ thương mại (trade remedies) và được áp dụng để bảo vệ thị trường nội địa trước sự thâm nhập của hàng hóa nước khác. Về bản chất, biện pháp chống bán phá giá và chống trợ cấp được áp dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay không công bằng của hàng hóa nhập khẩu.
Nói cách khác, biện pháp chống bán phá giá được áp dụng dưới dạng thuế nhập khẩu bổ sung hoặc các biện pháp cam kết loại trừ tác động của việc bán phá giá khi hàng hóa nước ngoài được bán phá giá vào thị trường nội địa của nước nhập khẩu và việc bán phá giá đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất hàng hóa tương tự của nước nhập khẩu đó. Trong khi biện pháp chống bán phá giá là để đối phó với hành vi bán sản phẩm với giá thấp nhằm chiếm lĩnh thị trường và tiến tới loại bỏ dần các đối thủ cạnh tranh thì biện pháp chống trợ cấp được áp dụng để loại bỏ tác động tiêu cực gây ra cho ngành sản xuất hàng hóa trong nước xuất phát từ các chính sách trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu. Khi chính phủ của nước xuất khẩu có các chính sách trợ cấp đối với một loại hàng hóa xuất khẩu và chính sách trợ cấp đó đã tạo lợi thế cho các nhà xuất khẩu của nước đó bán hàng hóa vào một nước khác với mức giá thấp khiến ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước của nước khác đó không thể cạnh tranh được, lúc đó cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có thể tiến hành các cuộc điều tra để áp dụng các biện pháp chống trợ cấp (thuế đối kháng) nhằm loại bỏ tác động của các chính sách trợ cấp đó. Được thừa nhận trong thương mại quốc tế nhưng lại đi ngược lại mục tiêu "tự do hóa thương mại", biện pháp tự vệ là một công cụ "phải trả tiền".
Điều này có nghĩa là các nước được phép áp dụng nó bảo vệ ngành sản xuất của nước mình nhưng phải "trả giá" cho những thiệt hại mà biện pháp này gây ra cho các nhà sản xuất nước ngoài (như một hình thức cân bằng cam kết 11 z thương mại với nước khác). Cụ thể, nước áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường thương mại cho các nước có hàng hóa bị áp dụng biện pháp tự vệ theo các điều kiện nhất định. Nếu nước này không tuân thủ, WTO cho phép các nước liên quan được áp dụng biện pháp trả đũa. Ở Việt Nam, nguyên tắc áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại được quy định trong ba pháp lệnh gồm: Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH10 về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 về chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam và Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 về chống trợ cấp hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam.
Các văn bản hướng dẫn cũng được ban hành để hướng dẫn chi tiết việc thi hành pháp lệnh, đảm bảo hiệu quả công tác phòng vệ đối với ngành sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu. Biện pháp chống bán phá giá Quy định của WTO và thực tiễn áp dụng biện pháp chống bán phá giá Trong thực tiễn thương mại quốc tế, các biện pháp chống bán phá giá được đánh giá là một trong những công cụ hiệu quả để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các nhà sản xuất trong nước. Cụ thể, Hiệp định chống bán phá giá của WTO (Anti-dumping Agreement - ADA) thừa nhận các biện pháp chống bán phá giá là công cụ hỗ trợ nhà sản xuất trong nước khi có hành vi bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và hành vi đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, để tránh việc lạm dụng các biện pháp chống bán phá giá, cần phải tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục và trình tự chung được quốc tế thừa nhận, phù hợp với các quy định của WTO.
Hiệp định của WTO về chống bán phá giá quy định các nguyên tắc thống nhất bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên khi xây dựng pháp luật và áp dụng trong thực tiễn các biện pháp phòng vệ này.1 của ADA quy định: trong phạm vi Hiệp định này, một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại của 12 z một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường. Về cơ bản, khái niệm pháp lý giống với các khái niệm học thuật khi cho rằng bán phá giá là hiện tượng phân biệt giá song căn cứ để xác định không còn là giá bán của hàng hóa trên thị trường xuất khẩu và trên thị trường nhập khẩu mà là giá xuất khẩu (giá bán vào thị trường nhập khẩu) và giá trị thông thường của hàng hóa nhập khẩu. Giá trị thông thường không phải là giá nội địa của hàng hóa bị điều tra mà là giá có thể so sánh được của hàng hóa tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu. Giá thông thường được hiểu là “mức giá chuẩn” mà các DN áp dụng cho các giao dịch mua bán trên thị trường nước xuất khẩu.
Để có thể xác định được “mức giá chuẩn” trong mọi tình huống, các nhà làm luật đã đặt ra nhiều tiêu chuẩn và phương pháp tính toán phức tạp và mềm dẻo. Những thay đổi trong khái niệm pháp lý về bán phá giá đã giải quyết được trường hợp không thể xác định được giá bán trên thị trường nội địa của hàng hóa bị điều tra do chúng được sản xuất chỉ để xuất khẩu hoặc giá bán hàng hóa trên thị trường nội địa không bình thường do thấp hơn chi phí sản xuất hoặc là giá bán độc quyền….