MỞ ĐẦU 1. TINH CAP THIẾT CUA ĐỀ TAI Ở nước ta, từ sau Dai hội đại biểu Dang cộng san Việt nam lần thứ VI, nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phan phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành và phát triển. Việc áp dung cơ chế quan lý kinh tế mới đã đặt ra nhu cầu khách quan mang tính cấp bách phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Các quan hệ xã hội, đặc biệt là các quan hệ kinh tế ngày càng đòi hoi phải được điều chỉnh bằng pháp luật, sự hoạt động của các cơ quan nhà nước phải dựa trên nền tảng pháp lý vững chắc.
Trong hoàn cảnh đó Pháp lệnh Hải quan ban hành ngày 24/2/1990 quy định chế độ nhà nước về hải quan, bước đầu đưa ra được các cơ sở pháp lý cho hoạt động của bản thân cơ quan Hải quan cũng như các quy định chung về chế độ hải quan cua Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Tuy nhiên, Pháp lệnh Hai quan ban hành năm 1990 cơ bản vẫn dựa trên tình thần của Hiến pháp 1980 ban hành trong điều kiện của nền kinh tế quan liêu, bao cấp nên có nhiều quy định đã không còn phù hợp với Hiến pháp 1992 được ban hành theo đường lối mở cửa, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta. Những chế định pháp lý quy định các chế độ có liên quan mật thiết đến hoạt động hải quan như chế định về thương mại, về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mặc dù đã liên tục được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn nhiều nhược điểm cả về hình thức văn bản cũng như nội dung, và đặc biệt là không có tính đồng bộ với Luật Hải quan để tạo nên một chế độ hải quan đáp ứng được công cuộc phát triển kinh tế và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Việc Việt nam tham gia ASEAN, binh thường hóa quan hệ với tất cả các nước, ngày càng hội nhập vào quá trình phân công lao động khu vực va quốc tế đã đặt ra những yêu cầu mới, những thách thức mới đòi hỏi phải được giải quyết cấp bach sao cho vừa dam bao được yêu cầu phát triển kinh tế vừa đảm bảo được yêu cầu bảo vệ sản xuất trong nước, bảo vệ trật tư, an toàn xã hội, an ninh quốc gia.
Trong tình hình như vậy, hệ thống pháp luật về hãi quan hiện hành, với văn bản pháp lý trọng tâm là Pháp lệnh Hải quan cùng với các văn bản quy phạm pháp luật trong các lĩnh vực thương mại và thuế xuất- nhập khẩu., đến nay đã không còn đáp ứng được với tinh hình phát triển kinh tế xã hội. Những hoàn cảnh khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay đòi hỏi phải xóa bd tư duy quan lý nhà nước về hai quan _ theo cơ chế cũ, hình thành tư duy mới về hoạt động hải quan và quan lý hoạt động hải quan bằng pháp luật. Đứng trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu đề tài "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan trong điều kiện hiện nay ở Việt nam" là đòi hỏi cấp thiết cả về phương diện lý luận và phương diện thực tiễn.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Hai quan xã hội chủ nghĩa ra đời cùng với sự ra đời của nước Nga xô-viết - Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Tại Việt nam, 4 việc quan lý hai quan đã được chế độ mới quan tâm, chú trong ngay từ những ngày đầu thành lập nước, với Sac lệnh 09 ngày 10/9/1945 do Ba trướng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa ủy quyền của Chủ tịch nước ký thành lập Sở thuế quan và thuế gián thu trung ương.
Tuy nhiên, có thể nói là ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, do vai trò của Hải quan và hoạt động hải quan trong nền kinh tế quan liêu, bao cấp rất hạn chế, nên rất ít các công trình nghiên cứu pháp luật về hải quan. Ở nước ta hầu như chưa có công trỉnh nào nghiên cứu pháp luật về hai quan. nhất là pháp luật về hai quan trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, mặc dù trong các văn kiện của Đảng, trong các quyết định, chỉ thị của Nhà nước, trong các bài viết, bài nói của các đồng chí lãnh đạo Dang và Nhà nước có dé cập đến. Nguyên nhân của tình trạng trên có thể giải thích bằng những điều kiện đặc thù của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta: - Thời kỳ 1945-1975 đất nước có chiến tranh, các hoạt động kinh tế lúc đó chủ yếu phục vụ cho mục đích kháng chiến thắng lợi.
ngoại thương còn nhỏ bé, các hoạt động giao lưu kinh tế quốc tế không phát triển nên hoạt động hai quan hầu như cũng không phát triển. - Thời kỳ 1975-1986 đất nước vừa ra khỏi chiến tranh. nén kinh tế vẫn là nền kinh tế quan liêu, bao cấp, hoại động ngoại thương chủ yếu theo chế độ nghị định thư, hàng đổi hàng, quan hệ quốc tế chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa, do đó hoạt động hải quan cũng chưa có gì đáng kể, và vì vậy pháp luật về hai quan cũng chưa được chú trọng. - Thời ky từ 1986 đến nay, trong khuôn khổ một nền kinh tế phat triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, hoạt động hải quan ở nước ta đã dan dan trở lại với các chức năng truyền thống là quan lý các hoạt động xuất- nhập khẩu và xuất-nhập cảnh, đấu tranh chống buôn lậu, phục vụ phát triển san xuất trong nước và thu thuế cho ngân sách nhà nước.
Bên cạnh các chức năng truyền thống ấy, Hải quan Việt nam còn đảm nhiệm chức năng là công cụ chuyên chính của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, tham gia tích cực vào việc bảo vệ an ninh chính trị. trật tự an toàn xã hội, thông qua các hoạt động nghiệp vu. Đứng trước tỉnh hinh đó, Pháp lệnh Hai quan 1990 ra đời tuy mang nhiều nét định hướng cho việc quản lý hai quan theo cơ chế mới, nhưng vẫn còn mang nặng dấu ấn của cơ chế quản lý cũ và tư duy cũ; việc nghiên cứu, tổng kết thi hành Pháp lệnh mới bắt đầu, nền tảng pháp lý cho quản lý nhà nước về hãi quan trong điều kiện kinh tế thị trường cô sự quản lý của Nhà nước chưa vững chắc, đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu về vấn đề này. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA LUẬN ÁN Trước yêu cầu đổi mới tư duy quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hải quan đáp ứng nhu cầu quan lý bang pháp luật các quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng trở nên đa dạng, đa phương, để vừa tạo thuận lợi cho việc nước ta tham gia quá trinh phân công lao động quốc tế cũng như khu vực, vừa bảo vệ được sản xuất trong nước, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội cũng như an ninh đất nước, luận án có mục đích góp phần làm sáng to cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quan lý nhà nước về hải quan bằng pháp luật, nội dung, vai trò và các đặc trưng cơ bản của nó.
làm rõ những yêu cầu chủ quan và khách quan, hệ quan điểm và phương hướng đổi mới, hoàn thiện pháp luật về hải quan, kiến nghị những giải pháp chủ yếu đổi moi và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hai quan ở nước ta, trong đó việc xây dựng và ban hành Luật Hải quan là trọng tâm. Với mục đích đó, luận án có nhiệm vụ đi sâu phân tích các vấn đề sau: - Nghiên cứu vận dụng đường lối đổi mới của Dang va Nhà nước ta vào việc xảy dựng pháp luật về hai quan trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường có sự quan ly của Nhà nước xã hội chu nghĩa, tạo cơ sở pháp lý cho việc đổi mới tư duy quan lý nhà nước trong lĩnh vực hai quan. - Phân tích những đặc điểm của pháp luật về hai quan, về các đặc trưng của các quy phạm pháp luật về hải quan, vị trí và vai trò của pháp luật trong hoạt động hải quan làm cơ sở lý luận cho việc xây dựng Luật Hải quan. - Khái quát về lịch sử hoạt động hải quan và pháp luật về hải quan trong lịch sử thế giới nói chung và ở Việt nam nói riêng.
Phân tích quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của hoạt động hải quan, pháp luật về hai quan dưới chế độ mới ở nước ta qua các thời kỳ cách mạng để làm cơ sở thực tiễn cho việc dé xuất các phương hướng và giai pháp đổi mới. - Trong bối canh lịch sử. xã hội, kinh tế hiện nay, phân tích những nhược điểm của hệ thống pháp luật về hai quan hiện hành so với những đòi hoi khách quan cần đổi mới tư duy về hoạt động hai quan và quan lý hai quan. Từ đó rút ra kết luận về tính tất yếu khách quan phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hai quan.
trong đó trong tâm là xây dựng Luật Hai quan và đưa ra những kiến nghị. giải pháp cụ thể cho việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật về hãi quan ở nước ta. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt nam nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống bản chất của pháp luật về hai quan, các đặc trưng cơ ban của các quy phạm pháp luật về hai quan. Trên cơ sở đó luận án đề ra phương hướng và giải pháp đổi mới và hoàn thiện hệ thống này, trong đó trọng tâm là việc xây dựng và ban hành Luật Hải quan Việt nam.
Vĩ vậy, những điểm mới trong luận án có thể nêu tóm tắt như sau: 1- Lần dau tiên hệ thống hóa sự hình thành và phát triển của pháp luật về hãi quan Việt nam, thực trạng hiện nay của hệ thống pháp luật này trước yêu cầu điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo cơ chế thị trường mang tính đặc thù của nước ta. 2- Lần đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt nam đưa ra khái niệm pháp luật về hải quan, bản chất và các đặc trưng cơ bản của các quy phạm - pháp luật về hai quan cũng như của các quan hệ pháp luật về hai quan.