Chương I: Tác giả giới thiệu những nét chung nhất về chế định hòa giải trong tố tụng dân sự của Việt Nam nói chung và đặc thù của hòa giải vụ án kinh doanh, thương mại tại Tòa án, và một số vấn đề khác có liên quan đến chế định này. Chương II: Tác giả trình bày quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải vụ án kinh doanh, thương mại tại Tòa án, nhận định về thực tiễn áp dụng và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện chế định này trong tố tụng dân sự Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN KINH DOANH, THƢƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN 1.1 Khái niệm vụ án kinh doanh, thƣơng mại tại Tòa án: 1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại: Hoạt động kinh tế có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của đời sống xã hội. Nó luôn luôn vận động và phát triển không ngừng từ sơ đẳng đến hiện tại, từ đơn giản đến phức tạp.
Hoạt động kinh tế diễn ra thông qua việc thiết lập các quan hệ kinh tế với các hình thức mà ngày nay đã trở thành phổ biến như chào hàng, đơn đặt hàng, hợp đồng thương mại, hợp đồng dịch vụ,… Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế trở nên đa dạng và phức tạp, lợi ích phát sinh từ những hoạt động này ngày càng to lớn. Mục tiêu lợi nhuận tối đa trở thành động lực chính của các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế. Tham gia vào một mối quan hệ phức tạp, trong khi mỗi bên đều tìm cách tối đa hóa lợi nhuận thì tranh chấp là điều khó tránh khỏi. Từ năm 1995 Việt nam đã tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA), với cam kết mở của thị trường thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư.
Năm 1996 Việt Nam là thành viên sang lập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Á-Âu(ASEAM). Năm 1998, Việt Nam là thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương(APEC). Từ năm 2002 đến nay Việt nam tham gia các hiệp định mậu dịch tự do ASEAN- Hàn Quốc, ASEAN- Trung Quốc, ASEAN- Ốt-xtrây-li-a và Niu-Di-lân. Năm 2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Sự kiện này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thứ nhất, sự kiện này mở ra một thời kỳ mới cho Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập toàn diện, sâu sắc vào nền kinh tế quốc tế. Thứ hai, sự kiện này tạo ra cơ hội lớn về thị trường, về thu hút đầu tư, về tiếp cận khoa học kỹ thuật tiên tiến cho Việt Nam, từ đó tạo nên nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội khác như quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững, thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển. Tuy nhiên việc Việt Nam gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam phải đối mặt với một số thách thức lớn về kinh tế.
Từ việc hội nhập vào 8 nền kinh tế khu vực, Việt Nam đã tiến đến hội nhập vào thị trường thương mại thế giới. Với toàn cảnh thị trường trên, các hoạt động kinh doanh, thương mại, nhất là các tranh chấp kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều với tính chất phức tạp, khó khăn ở nhiều cấp độ khác nhau trong khi kiến thức thương mại quốc tế, tập quán quốc tế về mua bán hàng hóa, thanh toán tiền hàng, vận chuyển hàng hóa, bảo hiểm hàng hóa… và giải quyết tranh chấp của chúng ta còn hạn chế. Do vậy, chủ trương giải quyết tranh chấp kinh tế nhanh chóng, giảm bớt tối đa các thủ tục tố tụng rườm rà để hướng các chủ thể tin tưởng và lựa chọn pháp luật Việt Nam, cơ quan tài phán Việt Nam giải quyết tranh chấp thì không những quyền lợi ích của bên bị vi phạm được được bảo vệ, phục hồi kịp thời mà còn tạo điều kiện cho bên bị vi phạm tiếp tục duy trì ổn định, phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Giải quyết tốt các tranh chấp kinh doanh, thương mại còn là động lực để thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.
Để có khái niệm khoa học về vụ án kinh doanh, thương mại trước hết phải làm rõ thế nào là “tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp kinh doanh”, “tranh chấp thương mại”. Hiện nay, khái niệm tranh chấp kinh tế, tranh chấp kinh doanh, tranh chấp thương mại hay tranh chấp về kinh doanh, thương mại được sử dụng không nhất quán. Mỗi thuật ngữ có một cách hiểu khác nhau và chủ yếu dựa vào văn bản pháp luật thực định. * “Tranh chấp kinh tế”: Từ điển Luật học 2006 [70,tr.806] thì “Tranh chấp kinh tế là mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ kinh doanh của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật kinh tế.
Đặc trưng của tranh chấp kinh tế là chúng phát sinh từ quan hệ kinh doanh; chủ thể tham gia tranh chấp chủ yếu là các doanh nghiệp, tranh chấp gắn liền với lợi ích riêng biệt của mỗi chủ thể và luôn thuộc quyền tự định đoạt của họ”. Theo cách hiểu mà giới luật học vẫn thừa nhận thì nội hàm của tranh chấp kinh tế bao trùm cả tranh chấp kinh doanh , tranh chấp thương mại hay tranh chấp về kinh doanh, thương mại và những tranh chấp này chỉ là một dạng của tranh chấp kinh tế. Điều này xuất phát từ lý do quan hệ kinh tế không chỉ bao hàm những hoạt động phát 9 sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các chủ thể với tư cách bình đẳng mà còn cả quan hệ quản lý có liên quan đến hoạt động kinh doanh. Chứng minh cho quan điểm này, Giáo trình Luật Kinh tế của Khoa luật Đại học tổng hợp Hà Nội viết: “Các tranh chấp kinh tế trong kinh doanh trong phạm vi nhất định có sự khác biệt với tranh chấp kinh tế.
Khái niệm kinh tế cũng như “quan hệ kinh tế” thông thường được hiểu rộng hơn khái niệm “kinh doanh” với quan hệ kinh doanh. Trong kinh tế bao hàm cả yếu tố quản lý và yếu tố chính trị- xã hội khác liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, kinh doanh chỉ là một hoạt động mang tính nghề nghiệp như sản xuất, buôn bán, dịch vụ… gắn với mục đích lợi nhuận. Do tính chất của quan hệ kinh tế như vậy, việc giải quyết trong kinh doanh cũng mang những tính đặc thù nhất định so với giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung”.
Đồng quan điểm trên, cuốn “Tìm hiểu pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh” cũng cho rằng “Tranh chấp trong kinh doanh là một dạng của tranh chấp kinh tế” [35,tr. Bên cạnh đó, cũng có nhà luật học đồng nhất trong cách sử dụng thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” và “tranh chấp kinh doanh”. Cuốn “Tìm hiểu Luật Kinh tế”[46,tr.187-194]; hoặc “ Giải Quyết tranh chấp kinh tế bằng con đường Tòa án” [11,tr. 42], sử dụng hai thuật ngữ này hầu như không có sự phân biệt.
Nhận xét của Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa:“Trong những tranh luận gần đây xuất hiện thêm một nhu cầu lựa chọn giữa hai chữ luật kinh doanh và luật kinh tế…Việc chọn chữ “kinh doanh” hay “kinh tế ” tùy các nhà am hiểu chữ nghĩa luận bàn thêm”.31] * Tranh chấp kinh doanh (hay còn gọi là tranh chấp trong kinh doanh): là thuật ngữ được nhiều công trình, bài nghiên cứu của giới luật học sử dụng nhiều nhất, như một thuật ngữ chính phát sinh từ hoạt động kinh doanh. Cụ thể, cụ thể tranh chấp kinh doanh được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa các các nhà đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi [32, tr10]. Xuất phát từ khái niệm “kinh doanh” theo quy định khoản 2 Điều 4 của Luật Doanh Nghiệp 2005 [26], tranh chấp kinh doanh là tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ 10 sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Như vậy, đặc điểm của tranh chấp kinh doanh là luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh, chủ thể tham gia là các chủ thể kinh doanh và các bên có liên quan; tranh chấp kinh doanh thể hiện ra bên ngoài là xung đột về lợi ích giữa các bên.
* Với sự ra đời của Luật thương mại, bên cạnh các thuật ngữ “tranh chấp kinh tế”, “tranh chấp kinh doanh” còn xuất hiện thêm thuật ngữ “tranh chấp thương mại”. LMT 1997 quan niệm tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại [28,Điều 238]. Trong khi đó, hoạt động thương mại được hiểu theo nghĩa rất hẹp, bị giới hạn bởi chủ thể là thương nhân và dấu hiệu hành vi do chủ thể thực hiện phải là hành vi thương mại. Hoạt động thương mại theo LTM 1997 chỉ bao gồm mua bán, dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hóa và dịch vụ tìm kiếm, thúc đẩy mua bán hàng hóa cơ hội mua bán hàng hóa và được cụ thể hóa thành 14 hành vi thương mại theo Điều 45 LTM 1997.
Như vậy, khái niệm tranh chấp thương mại theo quan niệm của LTM 1997 có nội hàm hẹp. LTM 2005 ra đời thay thế cho LTM năm 1997 có quan niệm về hoạt động thương mại rộng hơn gồm toàn bộ những hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác (khoản 1 Điều 3 LTM 2005). Như vậy, tranh chấp trong hoạt động thương mại bao gồm tất cả các tranh chấp phát sinh trong quá trình chủ thể là thương nhân thực hiện các hành vi nhằm mục đích sinh lợi và thông thường là các tranh chấp về hợp đồng. Do đó nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh doanh bao hàm cả khái niệm tranh chấp thương mại, do tranh chấp thương mại có giới hạn về chủ thể nên chỉ là một dạng của tranh chấp kinh doanh.
Bên cạnh đó, thuật ngữ “tranh chấp kinh tế” được sử dụng trong PLTTGQCVAKT ngày 16.1994, đồng thời đã liệt kê các loại tranh chấp kinh tế (Điều 12) [44] thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, đó là: 1. Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh. Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, giải thể công ty. Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu.