CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN QUA KHO BẠC NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kiểm soát chi thưòng xuyên qua Kho bạc Nhà nước: 1. Lý luận chung về kiểm soát: Hoạt động quản lý là cực kỳ cần thiết trong mọi tổ chức. Quản lý không chỉ đảm bảo cho hoạt động của một tổ chức được tiến hành với hiệu quả cao mà còn đảm bảo đúng các mục tiêu đề ra, theo chức năng được quy định và nhiệm vụ được giao.
Một cách chung nhất, quản lý là một quá trình định hướng và tổ chức thực hiện theo các hướng đã định trên cơ sở những nguồn lực xác định của tổ chức nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Toàn bộ hoạt động quản lý được thực hiện thông qua các chức năng quản lý. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ mà chủ thể quản lý có thể theo dõi, kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh sự hoạt động của mỗi bộ phận và toàn bộ hệ thống quản lý. Quản lý bao gồm năm chức năng: dự báo; lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm tra, kiểm soát và đánh giá, điều chỉnh.
Kiểm soát là một trong năm chức năng của quản lý. Kiểm tra, kiểm soát là để đo lường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động, là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý, hoạt động kiểm soát được thực hiện kịp thời sẽ đảm bảo cho quá trình tác nghiệp được tiến hành theo như kế hoạch ban đầu, điều chỉnh kịp thời các sai lệch trong quá trình hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Như vậy, kiểm soát là một chức năng quan trọng trong các chức năng của công tác quản lý. Kiểm soát luôn là một bộ phận cấu thành một cách tự nhiên trong hoạt động của mọi tổ chức và cá nhân.
Theo từ điển Tiếng Việt do Viện ngôn ngữ học biên soạn, kiểm soát là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” [9, tr 622]. 5 Kiểm soát không phải một giai đoạn hay một pha của quản lý mà nó được thể hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình này. Nó tồn tại như một khâu độc lập của quá trình quản lý nhưng đồng thời lại là một bộ phận chủ yếu của quá trình đó. Do đó kiểm soát được quan niệm là một chức năng của quản lý.
Tuy nhiên chức năng này được thể hiện khác nhau tùy thuộc vào cơ chế kinh tế, cấp quản lý và loại hình cụ thể. Kiểm soát được hiểu là tổng hợp những phương sách để nắm lấy và điều hành đối tượng hoặc khách thể quản lý. Với ý nghĩa đó, kiểm soát có thể được hiểu theo nhiều cách: cấp trên kiểm soát cấp dưới thông qua chính sách hoặc các biện pháp cụ thể; đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua chi phối đáng kể quyền sở hữu và lợi ích tương ứng; nội bộ đơn vị kiểm soát lẫn nhau thông qua quy chế và các thủ tục quản lý. Trong quản lý, kiểm soát là công việc nhằm soát xét lại những qui định, những quá trình thực thi các quyết định quản lý được thể hiện trên các nghiệp vụ nhằm nắm bắt và điều hành những nghiệp vụ đó.
Mục tiêu của hoạt động kiểm soát trong tác nghiệp là đảm bảo cho quá trình tác nghiệp được thành công, đạt được mục tiêu đề ra, ngăn ngừa và phát hiện các sai lầm, gian lận, sai sót và rủi ro trong quá trình tác nghiệp làm giảm thiểu các khả năng xảy ra các hiện tượng này và còn cung cấp những thông tin cần thiết cho việc ra quyết định điều chỉnh. Khái niệm, đặc điểm, vai trò chi thường xuyên: 1. Khái niệm: Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng nguồn lực tài chính của Nhà nước nhằm trang trải những nhu cầu thường xuyên của các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức chính trị xã hội, chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp thuộc khu vực công, qua đó thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các hoạt động sự nghiệp kinh tế, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, khoa học công 6 nghệ và môi trường và các hoạt động sự nghiệp khác được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí thường xuyên. Phân loại chi thường xuyên: - Cách 1: Căn cứ vào tính chất kinh tế: Chi thường xuyên bao gồm 4 nhóm mục cụ thể như sau: + Nhóm các khoản chi thanh toán cho cá nhân bao gồm: tiền lương; phụ cấp lương; tiền công; học bổng học sinh, sinh viên; tiền thưởng; phúc lợi tập thể; chi về công tác người có công với cách mạng và xã hội; chi lương hưu và trợ cấp; chi các khoản đóng góp và các khoản thanh toán khác cho cá nhân.
+ Nhóm các khoản chi về hàng hóa, dịch vụ và các khoản chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành bao gồm: thanh toán dịch vụ công cộng; chi vật tư văn phòng; thông tin, tuyên truyền, liên lạc; hội nghị; công tác phí; chi phí thuê mướn; chi sửa chữa thường xuyên và chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành. + Nhóm các khoản chi mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ bao gồm: sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ chuyên môn và các công trình cơ sở hạ tầng; chi mua, đầu tư tài sản vô hình; chi mua sắm tài sản dùng cho công tác chuyên môn. + Nhóm các khoản chi thường xuyên khác bao gồm: các nhóm mục của mục lục ngân sách nhà nước không nằm trong 3 nhóm mục chi trên - Cách 2: Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi cụ thể sau: + Chi cho sự nghiệp kinh tế: Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, quản lý kinh tế - xã hội và tạo điều kiện cho các ngành kinh tế hoạt động và phát triển một cách thuận lợi. Mục đích hoạt động của đơn vị sự nghiệp kinh tế không phải là kinh doanh lấy lãi, 7 do vậy ngân sách nhà nước cần dành một khoản chi đáp ứng hoạt động của các đơn vị này.
Chi sự nghiệp kinh tế bao gồm:. Chi sự nghiệp nông nghiệp, sự nghiệp thủy lợi, sự nghiệp ngư nghiệp, sự nghiệp lâm nghiệp, sự nghiệp giao thông, sự nghiệp kiến thiết thị chính và sự nghiệp kinh tế công cộng khác. Chi điều tra cơ bản, đo đạc địa giới hành chính các cấp. Chi về bản đồ, đo đạc cắm mốc biên giới, đo đạc lập bản đồ và lưu trữ hồ sơ địa chính.
Chi định canh, định cư và kinh tế mới. + Chi sự nghiệp văn hóa: Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo; Chi sự nghiệp y tế; Sự nghiệp văn hóa thông tin; Sự nghiệp thể dục, thể thao; Sự nghiệp phát thanh truyền hình; Sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường; Sự nghiệp xã hội; Sự nghiệp văn xã khác. + Chi quản lý hành chính: Là các khoản chi cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước thuộc bộ máy chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương. + Chi về hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam.
+ Chi về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm: Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên Đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh Niên cộng sản Hố Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam. + Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước. + Chi các chương trình, mục tiêu của Quốc gia. + Chi trợ cấp cho đối tượng chính sách xã hội.
+ Chi hỗ trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. 8 + Chi trả lãi tiền do Nhà nước vay. + Chi viện trợ cho các Chính phủ và các tổ chức nước ngoài. + Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Đặc điểm của chi thường xuyên: - Nguồn lực tài chính trang trải cho các khoản chi thường xuyên được phân bổ tương đối đều giữa các tháng trong năm và giữa các năm trong kỳ kế hoạch. - Việc sử dụng kinh phí thường xuyên được thực hiện thông qua hai hình thức cấp phát thanh toán và cấp tạm ứng. Cũng như các khoản chi khác của ngân sách nhà nước, việc sử dụng kinh phí thường xuyên phải đúng mục đích, tiết kiệm và có hiệu quả. - Chi thường xuyên chủ yếu là chi cho con người và đảm bảo hoạt động của bộ máy nên nó không làm tăng thêm tài sản hữu hình của Quốc gia.
- Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể như chi cho đầu tư phát triển. Hiệu quả của nó không đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước, là hiệu quả kinh tế - xã hội. Vai trò của chi thường xuyên: - Chi thường xuyên có vai trò quan trọng trong nhiệm vụ chi của ngân sách nhà nước. Chi thường xuyên đã giúp cho bộ máy nhà nước duy trì hoạt động bình thường để thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nước, đảm bảo an ninh, an toàn xã hội, đảm bảo toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
- Thực hiện tốt nhiệm vụ chi thường xuyên còn có ý nghĩa rất lớn trong việc phân phối và sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính của đất nước, tạo điều kiện giải quyết tốt mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng. Chi thường xuyên hiệu quả và tiết kiệm sẽ tăng tích lũy vốn ngân sách nhà nước để chi cho đầu tư phát triển, thúc 9 đẩy nền kinh tế phát triển, nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò quản lý điều hành của nhà nước. Kiểm soát chi thường xuyên qua Kho bạc nhà nước: 1. Vai trò của kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước: Kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước là quá trình những cơ quan có thẩm quyền được giao thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi ngân sách nhà nước theo các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu do nhà nước quy định và trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng giai đoạn.
Như vậy, kiểm soát chi thường xuyên ngân sách nhà nước được đặt ra đối với mỗi Quốc gia, dù đó là Quốc gia phát triển hay đang phát triển.