CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ VÀ GIÁ THÀNH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1.1 Quản trị doanh nghiệp và nhu cầu thông tin cho quản trị doanh nghiệp 1.1 Các chức năng quản trị doanh nghiệp Quản trị doanh nghiệp là những cơ chế, quy định thông qua đó công ty được điều hành và kiểm soát. Cơ cấu quản trị doanh nghiệp xác định quyền hạn và trách nhiệm giữa những thành viên khác nhau trong công ty bao gồm các cổ đông, hội đồng quản trị, ban điều hành, ban kiểm soát và các bên liên quan khác. Đồng thời, quản trị doanh nghiệp lập ra các nguyên tắc và quy trình, thủ tục ra quyết định trong công ty. Quản trị doanh nghiệp có trách nhiệm phân bổ và quản lý các nguồn lực kinh doanh, các nguồn lực này có thể bao gồm nhân viên, công nghệ, thiết bị.
Các nhà quản lý doanh nghiệp có thể quản lý hiệu quả các nguồn lực, có thể giảm thiểu thời gian chết của sản phẩm, nâng cao năng suất và cuối cùng là nâng cao lợi nhuận, vị thế. Giảm nhẹ tác động của các nguồn lực khan hiếm, tối đa hóa việc sử dụng các nguồn lực sẵn có là một trong những yêu cầu cấp bách nhất của sự lãnh đạo của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cần các chính sách để hướng dẫn các quyết định và thực tiễn tiêu chuẩn. Các chính sách cần cụ thể và đơn giản để thực hiện, cần thêm tính linh hoạt để chúng có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau.
Quản lý doanh nghiệp có trách nhiệm hoạch định các chính sách giúp thống nhất các đơn vị, bộ phận hoặc chi nhánh của doanh nghiệp. Các nhà quản trị doanh nghiệp thiết lập ngân sách và dự báo tài chính cho doanh nghiệp. Các nhà quản trị cũng làm việc để duy trì chi tiêu và chi tiêu theo hướng dẫn ngân sách. Ví dụ, một nhà quản lý nhân sự sẽ làm việc để cân bằng nhu cầu kinh doanh với ngân sách cho tiền lương, tiền thưởng, trong khi một người quản lý công ty tài chính sẽ làm việc để ghi chép chính xác dữ liệu, phê duyệt ngân sách tài chính và dự báo kết quả tài chính.
Kết nối các phần khác nhau của một doanh nghiệp thông qua giao tiếp, các cuộc họp và quy trình có tổ chức là bắt buộc trong mọi doanh nghiệp. Các nhà quản lý doanh nghiệp giúp thiết lập khuôn khổ truyền thông và có thể chỉ định các hoạt động phối hợp cho các sự kiện một lần cũng như tất cả các quá trình đang diễn ra. Vũ Huyền Trang K17-KTD Học viện Ngân Hàng 4 Khoa Kế toán-Kiểm toán Phối hợp chính xác có thể giúp cân bằng nhu cầu bán hàng với mức độ sản xuất, phối hợp các chiến dịch quảng cáo với lịch trình tài chính và thu thập các nguồn lực công nghệ thông tin cho các dự án kinh doanh quan trọng. Các nhà quản lý doanh nghiệp thiết lập sự kiểm soát trong một doanh nghiệp thông qua các nhân xét, phản hồi và báo cáo.
Thông thường, quản lý và điều hành doanh nghiệp dựa vào các báo cáo kinh doanh để có thể nhìn thấy được điểm mạnh và điểm yếu trong kinh doanh. Các nhà quản lý doanh nghiệp cũng chỉ ra các yêu cầu và hoạt động của nhân viên mà phải phù hợp với kế hoạch kinh doanh và mục tiêu lợi ích đề ra.2 Vai trò của kế toán quản trị trong doanh nghiệp và trong việc thực hiện các chức năng quản trị của doanh nghiệp Theo khoản 10 điều 3 Luật Kế toán Việt Nam số 88/2015/QH13 và quy định trong thông tư 53-2006-BTC, kế toán quản trị (KTQT) là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”. Như vậy, KTQT là lĩnh vực kế toán được thiết kế để thoả mãn nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong một tổ chức. Trong quá trình xác định và theo đuổi mục tiêu của tổ chức, chủ sở hữu và các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện 4 chức năng cơ bản sau: Một là, lập kế hoạch: Kế hoạch là các hoạch định trong ngắn hạn hay dài hạn và các hoạt động để đạt được mục đích cụ thể.
Ngân sách là một kế hoạch tài chính cho thấy được các nguồn lực được hình thành và sử dụng như thế nào trong khoảng thời gian cụ thể.Kế toán quản trị được kết hợp chặt chẽ với các quy hoạch bởi vì nó cung cấp thông tin cho việc ra quyết định và bởi vì toàn bộ quá trình lập ngân sách phát triển xung quanh các báo cáo kế toán. Kế toán quản trị giúp nhà quản lý trong việc lập kế hoạch bằng cách cung cấp các báo cáo ước tính các tác động đến khả năng đạt được mục tiêu mong muốn của doanh nghiệp. Ví dụ, nếu doanh nghiệp xác định lợi nhuận mục tiêu trong một năm, họ phải xác định làm thế nào để đạt được mục tiêu đó, sản phẩm nào sẽ được bán với mức giá nào. Kế toán quản lý phát triển dữ liệu giúp các nhà quản lý xác định sản phẩm có lợi nhuận cao hơn.
Tương tự, tác động của giá thay thế và chiến lược bán hàng được đề ra hợp lý. Vũ Huyền Trang K17-KTD Học viện Ngân Hàng 5 Khoa Kế toán-Kiểm toán Hai là, tổ chức và điều hành các hoạt động. Tổ chức là quá trình thiết lập khuôn khổ tổ chức và phân công trách nhiệm cho những người làm việc trong tổ chức đó để đạt được mục đích kinh doanh. Trong quá trình tổ chức, việc phân tổ có thể thực hiện bằng cách thành lập các phòng ban, chi nhánh.
Việc tổ chức yêu cầu rõ ràng về trách nhiệm và quyền hạn của từng cá nhân. Các phòng ban và các đơn vị khác nhau có mối quan hệ trong hệ thống phân cấp, có cơ cấu truyền thông chính thức trong đó thông tin và hướng dẫn được chuyển xuống cấp quản lý thấp hơn và để bạt lên cấp quản lý cao hơn. Kế toán quản trị giúp nhà quản lý tổ chức bằng cách cung cấp các báo cáo và thông tin cần thiết để điều chỉnh các hoạt động theo các điều kiện thay đổi. Ví dụ, các báo cáo theo kế toán quản trị có thể được chuẩn bị trên các dòng sản phẩm mà trên đó các nhà quản lý cơ bản có thể quyết định bổ sung hay loại bỏ một dòng sản phẩm trong hỗn hợp hiện tại.
Tương tự, kế toán quản trị có thể cung cấp báo cáo bán hàng, báo cáo sản xuất cho người quản lý tương ứng để có hành động phù hợp. Ba là, kiểm tra và đánh giá các kết quả thực hiện. Kiểm tra là quá trình theo dõi, đánh giá, điều chỉnh kết quả thực tế để đảm bảo đạt được mục tiêu, kế hoạch của doanh nghiệp. Kiểm tra, đánh giá được thực hiện kết hợp với sử dụng các ý kiến phản hồi.Phản hồi là thông tin có thể sử dụng để đánh giá hoặc sửa lại các bước thực hiện kế hoạch.
Kế toán quản trị phục vụ chức năng kiểm soát bằng cách sản xuất báo cáo hiệu suất và báo cáo kiểm soát làm nổi bật sự hác biệt giữa kế hoạch và thực tế. Các báo cáo này là cơ sở để thực hiện các hành động khắc phục cần thiết để kiểm soát hoạt động. Bốn là, ra quyết định. Ra quyết định là một quá trình lựa chọn giữa các lựa chọn cạnh tranh.
Việc ra quyết định là một chức năng tiềm tàng trong ba chức năng quản lý ở trên. Người quản lý không thể lên kế hoạch mà không đưa ra quyết định và phải lựa chọn giữa các mục tiêu cạnh tranh và phương pháp để thực hiện các mục tiêu đã chọn. Tương tự trong tổ chức, các nhà quản lý cần phải quyết định về cơ cấu tổ chức và các hành động cụ thể cần thực hiện trong các hoạt động hàng ngày. Trong kiểm soát, nhà quản lý cần quyết định xem các biến đổi có đáng để điều tra hay không.
Đây là chức năng cơ bản nhất của thông tin KTQT. Quá trình ra quyết định bao gồm các bước sau: - Xác định một vấn đề đòi hỏi hành động quản lý Vũ Huyền Trang K17-KTD Học viện Ngân Hàng 6 Khoa Kế toán-Kiểm toán - Chỉ rõ mục tiêu hoặc kết quả cần đạt được - Liệt kê các hoạt động thay thế có thể - Thu thập các thông tin về hậu quả của mỗi phương án - Đưa ra quyết định 1.3 Nhu cầu thông tin chi phí và giá thành cho quản trị doanh nghiệp Thông tin kế toán là những thông tin về sự vận động của các đối tượng kế toán. Thông tin về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là thông tin được hình thành từ các nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm không những đáp ứng được yêu cầu trong quản lý chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm mà còn cung cấp thông tin về kinh tế tài chính quan trọng về quá trình sản xuất cho những người ra quyết định, góp phần đề ra giải pháp, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí không bao giờ xác định được giá cả, nhưng chi phí đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược giá cả. Các quyết định về giá cả liên quan chặt chẽ đến các quyết định về mức bán hàng và doanh thu liên quan đến chi phí của người bán, quyết định của người bán về sản phẩm để sản xuất và số lượng phụ thuộc một cách nghiêm trọng vào chi phí sản xuất của họ. Các công ty định giá có hiệu quả quyết định sản xuất cái gì và bán cho ai bằng cách so sánh giá mà họ có thể tính với chi phí mà họ thực tế phải chịu. Do đó, chi phí có ảnh hưởng đến giá thành họ tính.
Đối với một nhà sản xuất với chi phí thấp, họ có thể tính giá thấp hơn và bán nhiều hơn vì có thể lợi dụng giá thấp để thu hút nhiều người mua nhạy cảm với giá. Mặt khác, một nhà sản xuất có chi phí sản xuất cao hơn, không có khả năng chi trả cho những người sản xuất có chi phí thấp để bảo trợ cho người mua nhạy cảm với giá, vì vậy họ phải nhắm mục tiêu vào những người mua sẵn sàng trả giá cao hơn.