Tổng quan nghiên cứu

Vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập là một thách thức môi trường cấp bách, đặc biệt tại các địa phương có địa bàn rộng và hệ thống y tế phức tạp. Theo số liệu thống kê y tế tại tỉnh Nghệ An, tính đến cuối năm 2014, toàn tỉnh có 42 bệnh viện đang hoạt động cùng 22 phòng khám đa khoa khu vực với quy mô trên 7.000 giường bệnh, làm phát sinh khoảng 12 tấn chất thải rắn mỗi ngày. Hệ số phát sinh chất thải trung bình ghi nhận ở mức 1,69 kg/giường bệnh/ngày, trong đó chất thải nguy hại chiếm 0,24 kg/giường bệnh/ngày.

Mặc dù có hơn 50% cơ sở y tế đã được đầu tư hệ thống xử lý, song hiệu quả vận hành thực tế còn nhiều bất cập. Hầu hết các lò đốt chất thải y tế đều xuống cấp nghiêm trọng, nhiệt độ buồng đốt chỉ đạt 500 - 600°C dẫn tới hiện tượng phát tán khói đen, mùi khét và nguy cơ phát sinh hợp chất độc hại Dioxin/Furan. Thực trạng này tạo ra làn sóng đơn thư khiếu nại từ cộng đồng dân cư và gia tăng nguy cơ ô nhiễm thứ cấp.

Mục tiêu cụ thể của công trình là đánh giá toàn diện hiện trạng phát sinh, phân loại, thu gom, lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện công lập trên địa bàn tỉnh Nghệ An trong giai đoạn 2010 - 2015; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và cơ chế quản lý mang tính khả thi cao. Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc giảm thiểu rủi ro sức khỏe cộng đồng, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An kiểm soát ô nhiễm, đồng thời góp phần ngăn chặn thiệt hại kinh tế ước tính có thể lên tới 5,5% GDP hàng năm do suy thoái môi trường theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết Quản lý tổng hợp chất thải rắn (Integrated Solid Waste Management - ISWM) và lý thuyết Đánh giá vòng đời chất thải (Life Cycle Assessment - LCA), bao quát toàn bộ quy trình từ khâu phát sinh tại nguồn, phân loại, thu gom, vận chuyển đến xử lý cuối cùng. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế về quy chế quản lý chất thải y tế, Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại, cùng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2012/BTNMT về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế.

Khung phân loại chất thải y tế được xác định theo 5 nhóm đặc thù:

  1. Chất thải lây nhiễm (chất thải sắc nhọn loại A, lây nhiễm không sắc nhọn loại B, lây nhiễm cao loại C, chất thải giải phẫu loại D).
  2. Chất thải hóa học nguy hại (dược phẩm quá hạn, chất gây độc tế bào, hóa chất chứa kim loại nặng như thủy ngân, cadimi, chì).
  3. Chất thải phóng xạ (rắn, lỏng, khí từ chẩn đoán và xạ trị theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT).
  4. Bình chứa áp suất (bình oxy, CO2, bình khí dung).
  5. Chất thải thông thường (chất thải sinh hoạt không chứa mầm bệnh và vật liệu tái chế).

Bên cạnh đó, nghiên cứu áp dụng lý thuyết phát tán khí thải và cơ chế hình thành độc chất bền vững Dioxin/Furan khi thiêu đốt không hoàn toàn ở nhiệt độ dưới 850°C, kết hợp với các nguyên lý khử khuẩn bằng nhiệt ẩm (Autoclave) và công nghệ vi sóng thân thiện với môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu điển hình kết hợp phân tầng đại diện cho 4 vùng kinh tế sinh thái của tỉnh Nghệ An (Đông Bắc, Đông Nam, Tây Bắc, Tây Nam). Cỡ mẫu khảo sát thực địa chuyên sâu được thực hiện tại 4 bệnh viện công lập trọng điểm gồm: Bệnh viện Phong và Da liễu Quỳnh Lập (tuyến chuyên khoa Trung ương đóng trên địa bàn), Bệnh viện Đa khoa Khu vực Tây Nam (tuyến khu vực miền núi), Bệnh viện Đa khoa Huyện Đô Lương và Bệnh viện Đa khoa Huyện Anh Sơn (tuyến huyện đồng bằng và trung du). Đồng thời, dữ liệu thứ cấp được thu thập từ toàn bộ 41 bệnh viện và 22 phòng khám đa khoa trên toàn tỉnh.

Timeline nghiên cứu và thu thập số liệu tập trung từ tháng 11/2014 đến tháng 05/2015. Nguồn dữ liệu sơ cấp được xác định thông qua phương pháp cân đo khối lượng phát sinh hàng ngày tại từng khoa phòng chuyên môn (khoa Cấp cứu, Ngoại, Nội, Sản, Nhi, Mắt - Răng Hàm Mặt), kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý và quan sát hiện trường bằng bảng kiểm tra chuẩn hóa. Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ báo cáo quan trắc định kỳ của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Nghệ An và Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phương pháp phân tích số liệu thống kê mô tả và thống kê so sánh được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác định mức phát thải theo đầu giường bệnh (kg/giường/ngày) và đánh giá sự sai lệch giữa năng lực thiết kế với công suất vận hành thực tế của hệ thống lò đốt y tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả điều tra cho thấy tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh trên toàn địa bàn tỉnh Nghệ An đạt khoảng 12 tấn/ngày từ hệ thống hơn 7.000 giường bệnh. Định mức phát sinh trung bình đạt 1,69 kg/giường bệnh/ngày, trong đó lượng chất thải nguy hại chiếm 0,24 kg/giường bệnh/ngày (tương đương 14,2% tổng lượng thải). Định mức này có sự phân hóa rõ rệt giữa các khoa: Khoa Hồi sức cấp cứu có tỷ lệ phát sinh cao nhất với 1,27 kg/người/ngày (chất thải nguy hại chiếm 0,31 kg/người/ngày), Khoa Phụ sản đạt 0,95 kg/người/ngày (nguy hại chiếm 0,22 kg/người/ngày), trong khi Khoa Nội chỉ phát sinh khoảng 0,47 kg/người/ngày với tỷ lệ nguy hại ở mức thấp 0,03 kg/người/ngày.

Thứ hai, công tác phân loại tại nguồn và lưu giữ tạm thời còn bộc lộ nhiều sai sót kỹ thuật. Tỷ lệ lẫn lộn chất thải lây nhiễm vào chất thải sinh hoạt diễn ra cục bộ tại một số bệnh viện tuyến huyện do thiếu túi đựng và thùng rác đạt chuẩn màu sắc theo quy định. Khu vực lưu giữ tại nhiều đơn vị chưa có mái che kín, nền không chống thấm và thiếu hệ thống thu gom nước rỉ rác.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng công nghệ xử lý tại chỗ và xử lý cụm đều trong tình trạng quá tải hoặc hư hỏng nặng. Toàn tỉnh có 18 bệnh viện áp dụng mô hình xử lý tại chỗ gồm 8 lò đốt ChuwAstar công nghệ Nhật Bản (công suất 20 - 30 kg/giờ, lắp đặt năm 2010), 9 lò đốt VHI-08 công nghệ Việt Nam (công suất 35 kg/giờ, lắp đặt năm 2005) và 1 hệ thống vi sóng tại Bệnh viện Quỳnh Lập. Tuy nhiên, toàn bộ 17 lò đốt đang hoạt động đều không đạt nhiệt độ thiết kế, buồng đốt chỉ duy trì ở mức 500 - 600°C làm khói đen và mùi khét phát tán liên tục. Hệ thống vi sóng tại Bệnh viện Quỳnh Lập phải tạm ngừng hoạt động do sự cố hỏng hóc thiết bị.

Thứ tư, mô hình xử lý tập trung tại lò đốt Hoval (Áo) thuộc khuôn viên Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa cũ với công suất thiết kế 450 - 500 kg/24 giờ đã vận hành quá tải hơn 10 năm. Lò đốt này phải tiếp nhận xử lý chất thải cho phần lớn các bệnh viện trên địa bàn thành phố Vinh, dẫn đến tình trạng rỉ sét buồng đốt, chi phí tiêu hao dầu đốt tăng vọt và nồng độ khí thải vượt giới hạn cho phép của QCVN 02:2012/BTNMT.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm khí thải lò đốt xuất phát từ sự thiếu hụt kinh phí duy tu, bảo dưỡng định kỳ và chi phí nhiên liệu dầu DO quá cao, khiến các cơ sở y tế thường vận hành cầm chừng, không đảm bảo đủ nhiệt độ buồng đốt thứ cấp trên 1050°C để phân hủy hoàn toàn khí độc. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn khi được mô hình hóa qua các bảng đối chiếu định mức phát thải khoa phòng và biểu đồ cột so sánh công suất vận hành cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các tuyến bệnh viện. So với số liệu Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia (bệnh viện tỉnh phát sinh 0,88 kg/giường/ngày; bệnh viện huyện phát sinh 0,73 kg/giường/ngày), chỉ số phát thải tại Nghệ An cao hơn đáng kể do áp lực quá tải bệnh nhân tuyến huyện và công tác quản lý chất thải thông thường chưa triệt để.

Việc vận hành các lò đốt không đạt chuẩn gây ra hệ lụy nghiêm trọng về môi trường và kinh tế - xã hội. Hợp chất Dioxin/Furan phát tán vào không khí có chu kỳ bán rã kéo dài từ 25 đến 100 năm, tích tụ qua chuỗi thức ăn và gây tổn hại hệ thống miễn dịch, tăng nguy cơ ung thư và dị tật sinh sản. Hơn nữa, việc vận chuyển chất thải lây nhiễm trên các cung đường miền núi dài hơn 200 km từ các huyện Kỳ Sơn, Quế Phong về trung tâm tỉnh mà thiếu phương tiện chuyên dụng đạt chuẩn theo Thông tư 12/2011/TT-BTNMT tiềm ẩn nguy cơ tai nạn phát tán mầm bệnh lây truyền như viêm gan B, C và HIV ra cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuyển đổi và nâng cấp công nghệ xử lý chất thải y tế: Loại bỏ dần các lò đốt thủ công, lạc hậu phát sinh khí độc; đầu tư thay thế bằng công nghệ xử lý không đốt thân thiện với môi trường như công nghệ vi sóng tích hợp nghiền cắt hoặc tiệt trùng bằng nhiệt ẩm (Autoclave). Đặt mục tiêu đến năm 2020 đạt 100% chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh được xử lý đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường, do Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An chủ trì thẩm định công nghệ.
  2. Tái quy hoạch mô hình xử lý theo cụm liên huyện hợp lý: Phân chia địa bàn toàn tỉnh thành 3 - 4 cụm xử lý chất thải y tế tập trung dựa trên khoảng cách địa lý và hạ tầng giao thông kết nối. Đầu tư bổ sung tối thiểu 05 xe vận chuyển chuyên dụng có hệ thống làm lạnh và định vị GPS đạt chuẩn Thông tư 12/2011/TT-BTNMT trước năm 2018, giao cho các đơn vị dịch vụ môi trường chuyên trách vận hành dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh.
  3. Chuẩn hóa quy trình phân loại tại nguồn và kỹ thuật trơ hóa chất thải: Tăng cường giám sát việc phân loại triệt để chất thải y tế ngay tại buồng bệnh theo đúng Quyết định 43/2007/QĐ-BYT; thực hiện dán nhãn, mã hóa màu sắc túi và thùng chứa đạt chuẩn 100%. Áp dụng kỹ thuật đóng rắn, trơ hóa đối với chất thải dược phẩm, hóa chất và tro xỉ lò đốt bằng hỗn hợp vôi và xi măng theo tỷ lệ: 65% chất thải nguy hại, 15% vôi, 15% xi măng và 5% nước trước khi chôn lấp an toàn, triển khai đồng bộ từ quý IV/2015.
  4. Hoàn thiện bộ máy nhân sự và cơ chế tài chính sự nghiệp môi trường: Thành lập bộ phận chuyên trách về quản lý chất thải y tế tại tất cả các bệnh viện từ tuyến huyện trở lên, chấm dứt tình trạng cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn kiêm nhiệm kỹ thuật môi trường. Bố trí nguồn ngân sách nhà nước và trích tối thiểu 15 - 20% nguồn thu viện phí dành riêng cho công tác vận hành, bảo trì hệ thống xử lý môi trường hàng năm, do Ban Giám đốc các bệnh viện phối hợp Sở Tài chính thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Y tế và Sở Tài nguyên và Môi trường: Cung cấp bức tranh toàn diện và cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ công tác xây dựng quy hoạch mạng lưới xử lý chất thải y tế, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và lập kế hoạch phân bổ ngân sách môi trường y tế.
  2. Lãnh đạo bệnh viện và cán bộ Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn: Cung cấp hướng dẫn thực hành phân loại chất thải tại nguồn, quy trình thu gom an toàn và các giải pháp khắc phục sự cố kỹ thuật của hệ thống lò đốt hoặc thiết bị vi sóng tại cơ sở y tế.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Khoa học Môi trường: Là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về phương pháp luận điều tra định mức phát thải y tế thực địa, phân tích thành phần độc hại và đánh giá công nghệ xử lý chất thải đặc thù vùng Bắc Trung Bộ.
  4. Các doanh nghiệp và chuyên gia công nghệ môi trường: Cung cấp thông số kỹ thuật thực tế và nhu cầu đầu tư thiết bị tiệt khuẩn không đốt, xe vận chuyển chuyên dụng để phát triển các dự án xã hội hóa xử lý chất thải y tế theo mô hình đối tác công - tư (PPP).

Câu hỏi thường gặp

1. Định mức phát sinh chất thải rắn y tế tại các bệnh viện tỉnh Nghệ An là bao nhiêu?
Theo kết quả khảo sát thực tế, định mức phát sinh chất thải rắn y tế trung bình đạt 1,69 kg/giường bệnh/ngày, trong đó chất thải y tế nguy hại chiếm 0,24 kg/giường bệnh/ngày (tương đương 14,2%). Tỷ lệ này biến thiên mạnh giữa các khoa, cao nhất tại khoa Hồi sức cấp cứu với 1,27 kg/người/ngày và thấp nhất tại khoa Mắt - Tai Mũi Họng với 0,68 kg/người/ngày.

2. Tại sao các lò đốt chất thải y tế tại các bệnh viện công lập Nghệ An thường xuyên phát sinh khói đen và mùi khét?
Nguyên nhân chủ yếu do 17 lò đốt tại chỗ (loại ChuwAstar và VHI-08) đều đã vận hành từ 5 - 10 năm mà không được bảo dưỡng định kỳ, buồng đốt chỉ đạt nhiệt độ 500 - 600°C thay vì trên 1050°C. Ở mức nhiệt thấp này, chất thải không cháy triệt để, tạo ra nhiều muội than, khí độc SO2, CO và phát sinh độc chất Dioxin/Furan gây ô nhiễm nghiêm trọng.

3. Vì sao công nghệ không đốt (như nhiệt ẩm Autoclave hoặc vi sóng) được khuyến khích thay thế lò đốt truyền thống?
Công nghệ không đốt giúp tiêu diệt 99,99% vi sinh vật gây bệnh bằng nhiệt độ hơi nước cao hoặc sóng điện từ mà hoàn toàn không thiêu đốt vật liệu nhựa. Do đó, công nghệ này triệt tiêu nguy cơ phát tán khí thải độc hại Dioxin/Furan, tiết kiệm 40 - 50% chi phí nhiên liệu và cho phép tái chế an toàn các mảnh nhựa đã tiệt trùng.

4. Kỹ thuật trơ hóa chất thải dược phẩm và hóa chất độc hại được thực hiện theo tỷ lệ nào?
Quy trình trơ hóa chất thải dược phẩm và hóa chất nguy hại trước khi chôn lấp được phối trộn theo công thức đồng nhất gồm: 65% chất thải dược phẩm/hóa học, 15% vôi bột, 15% xi măng và 5% nước. Hỗn hợp sau khi đóng rắn thành khối bền vững sẽ cố định các chất độc, ngăn ngừa sự rò rỉ hóa chất vào tầng nước ngầm.

5. Khó khăn lớn nhất trong việc vận chuyển chất thải y tế nguy hại tại Nghệ An là gì?
Trở ngại lớn nhất là địa bàn tỉnh rộng lớn với các huyện miền núi vùng sâu như Quế Phong, Kỳ Sơn cách trung tâm tỉnh hơn 200 km, địa hình hiểm trở. Hầu hết các tuyến huyện thiếu phương tiện vận chuyển chuyên dụng đạt chuẩn theo Thông tư 12/2011/TT-BTNMT, dẫn đến chi phí vận chuyển cao và rủi ro rò rỉ mầm bệnh dọc đường vận chuyển.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa chính xác lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại tỉnh Nghệ An với quy mô 12 tấn/ngày và xác lập định mức phát thải chi tiết 1,69 kg/giường bệnh/ngày cho từng khoa phòng chức năng.
  • Làm rõ thực trạng kỹ thuật xuống cấp của 17 lò đốt tại chỗ và 1 lò đốt cụm Hoval khi buồng đốt chỉ duy trì ở 500 - 600°C, chỉ ra nguyên nhân gây ô nhiễm khói đen và nguy cơ phát tán Dioxin/Furan ra môi trường.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp phân nhóm chất thải, chuẩn hóa quy trình phân loại tại nguồn và công thức trơ hóa chất thải hóa học bằng xi măng - vôi (tỷ lệ 65:15:15:5).
  • Đề xuất lộ trình chuyển đổi đồng bộ từ công nghệ đốt sang công nghệ vi sóng/nhiệt ẩm không đốt, kết hợp tái quy hoạch 3 cụm xử lý tập trung cho 21 huyện, thị xã.
  • Bước tiếp theo cần triển khai ngay việc bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường hàng năm để duy tu thiết bị và trang bị xe vận chuyển chuyên dụng đạt chuẩn Thông tư 12/2011/TT-BTNMT.

Các cơ quan quản lý, ban lãnh đạo bệnh viện và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục khai thác các kết quả thực nghiệm của đề tài nhằm hoàn thiện đề án quản lý chất thải y tế bền vững cho địa phương.