Chương 1: Cơ sở lý thuyết của việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường CTR tại địa phương. Chương 2: Thực trạng phát thải và công tác quản lý CTR trên huyện đảo Lý Sơn Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý CTR tại huyện đảo Lý Sơn. 13 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƢỜNG CHẤT THẢI RẮN TẠI ĐỊA PHƢƠNG 1. Chất thải rắn và mối quan hệ giữa chất thải rắn với phát triển bền vững về môi trƣờng.
Khái niệm và các nguồn phát sinh chất thải rắn 1. Khái niệm và thành phần cơ bản của chất thải rắn Khái niệm CTR: Theo quan điểm của GS. TS Nguyễn Đình Hương, CTR là loại vật chất ở thể rắn như các vật liệu, đồ vật bị thải ra từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt [6]. Ngoài ra, CTR còn được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh do các hoạt động của con người và động vật tồn tại ở dạng rắn, được thải bỏ khi không còn hữu dụng hay không còn muốn dùng nữa [16].
Thuật ngữ CTR được sử dụng trong luận văn này là bao hàm tất cả các hỗn hợp ở thể rắn được thải ra từ hoạt động sinh hoạt, tiêu dùng của cộng đồng dân cư, cũng như từ các ngành sản xuất nông nghiệp, thương mại dịch vụ, y tế… Thành phần cơ bản của CTR: Thông tin về thành phần CTR đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp để xử lý, các quá trình xử lý và cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý CTR. Thông thường trong rác thải đô thị, rác thải từ các khu dân cư và thương mại chiếm tỉ lệ cao nhất từ 50% - 70%. Phần trăm đóng góp của mỗi thành phần CTR, giá trị phân bố sẽ thay đổi tuỳ thuộc vào sự mở rộng các hoạt động xây dựng, sữa chữa, sự mở rộng của các dịch vụ đô thị cũng như công nghệ sử dụng trong xử lý nước. Thành phần riêng biệt của CTR thay đổi theo vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm, điều kiện kinh tế và tuỳ thuộc vào thu nhập của từng quốc gia… 1.
Các nguồn phát sinh chất thải rắn Nguồn gốc phát sinh, thành phần và tốc độ phát sinh của chất thải rắn là cơ sở quan trọng trong thiết kế, lựa chọn công nghệ xử lý và đề xuất các chương trình 14 quản lý chất thải rắn thích hợp.1 dưới đây tóm tắt nguồn gốc và địa điểm phát sinh chính của các loại CTR.1: Nguồn gốc các loại chất thải rắn Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng CTR Khu dân cư Hộ gia đình, biệt thự, chung cư Thực phẩm dư thừa, giấy, can nhựa, can thiếc, nhôm Khu thương mại Nhà kho, nhà hàng, chợ, Giấy, nhựa, thực phẩm khách sạn, nhà trọ, các trạm thừa, thuỷ tinh, kim loại, sửa chữa và dịch vụ chất thải nguy hại Cơ quan, công sở Trường học, bệnh viện, văn Giấy, nhựa, thực phẩm phòng, công sở nhà nước thừa, thuỷ tinh, kim loại, chất thải nguy hại Công trình xây dựng và Khu nhà xây dựng mới, sữa Gạch, bê tông, thép, gỗ, phá huỷ chữa nâng cấp mở rộng thạch cao, bụi, … đường phố, cao ốc, san nền xây dựng Khu công cộng Nhà máy xử lý nước, cấp Rác vườn, cành cây cắt nước, nước thải và các quá tỉa, chất thải chung tại các trình xử lý chất thải công khu vui chơi, giải trí nghiệp khác Nhà máy xử lý chất thải Công nghiệp xây dựng, chế Bùn, tro đô thị tạo, công nghiệp nặng, nhẹ, lọc dầu, hoá chất, nhiệt điện Công nghiệp Chất thải do quá trình chế biến công nghiệp, phế liệu, và các rác thải sinh hoạt Nông nghiệp Thực phẩm bi thối rửa, sản phẩm nông nghiệp thừa, rác, chất độc hại Nguồn: Integrated Solid Waste Management, Mc GRAW – HILL 15 Các CTR được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách. a) Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt rác hay CTR trong nhà, ngoài nhà , trên đường phố, chợ… b) Theo thành phần hoá học và vật lý: người ta phân biệt theo các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo. c) Theo bản chất nguồn tạo thành, CTR được phân loại thành CTR sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu là các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. CTR sinh hoạt bao gồm: chất thải thực phẩm; chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, và các chất dư thừa thải bỏ khác, chất thải từ đường phố chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói….
CTR công nghiệp: là các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất cát, gạch ngói, bê tông vỡ do các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình Chất thải nông nghiệp: là những chất thải và mẩu thừa thải ra từ hoạt động nông nghiệp thí dụ như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, các sản phẩm thải từ chết biến sữa, của các lò giết mổ… d) Theo mức độ nguy hại, CTR được phân thành các loại: Chất thải nguy hại phát sinh chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp; Chất thải không nguy hại e) Ngoài ra, để tạo điều kiện cho công tác quản lý CTR như hoạt động phân loại CTR tại nguồn, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải, CTR được chia làm CTR nguy hại và CTR thông thường. CTR thông thường được chia làm 3 loại chính bao gồm: CTR có thể thu hồi để tái sử dụng, tái chế; CTR hữu cơ dễ phân huỷ; CTR khác không thể tái sử dụng và tái chế được. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và lượng phát thải CTR Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế, bao gồm sự gia tăng về thu nhập, tiến bộ về cơ cấu kinh tế và xã hội [4].
Tuy nhiên, đi kèm với quá trình phát triển kinh tế là sự tăng lên về số lượng trong phát thải CTR và tính phức tạp, nguy hiểm về thành phần của CTR phát sinh. 16 Khi thu nhập của của hộ gia đình tăng lên, các hộ gia đình sẽ chi tiêu nhiều hơn cho các hàng hoá, dịch vụ và kéo theo đó là sự tăng lên của rác thải sinh hoạt. Thu nhập tăng lên thì chu kỳ sử dụng sản phẩm cũng ngắn lại, người tiêu dùng có xu hướng loại bỏ các vật phẩm tiêu dùng đã lỗi mốt mặc dù vẫn còn giá trị sử dụng, từ đó làm tăng lượng CTR phát sinh. Thêm vào đó, thời gian đối với những hộ gia đình có thu nhập cao ngày càng giá trị nên họ có xu hướng tiết kiệm thời gian cho sự chuẩn bị các bữa ăn bằng cách sử dụng nhiều thực phẩm tiện lợi, do đó nhu cầu sử dụng bao gói cũng nhiều hơn.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng ảnh hưởng rất lớn đến số lượng và thành phần CTR. Cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá, con người sẽ khai thác sử dụng nhiều tài nguyên với quy mô lớn, dẫn đến phát thải nhiều loại CTR với khối lượng rất lớn ví dụ như đất, đá, xi măng, gạch vụn,. ngổn ngang khắp mọi nơi. Sự tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ đồng thời tạo ra những vật liệu mới như đồ nhựa, thiết bị điện tử,.
và kéo theo là hàng loạt các CTR phức tạp khó phân huỷ và nguy hiểm. Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011, lượng CTR tăng mạnh ở các đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thành phố Đà Nẵng, nơi có tốc độ đô thị hoá, công nghiệp hoá tăng nhanh. Còn một số đô thị nhỏ như Thái Bình, Nam Định, Vĩnh Long, Tiền Giang,. tăng không nhiều do tốc độ đô thị hoá không cao.
Tỷ lệ CTR gia tăng cao tập trung ở các đô thị có xu hướng mở rộng, phát triển kinh tế mạnh như đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%).1: Lƣợng phát sinh CTR đô thị của một số tỉnh, thành phố qua các năm 2005 - 2010 Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 17 Các mô hình lý thuyết nghiên cứu về lượng CTR phát sinh cũng đã được nghiên cứu nhiều. Phần lớn các mô hình nghiên cứu được bắt nguồn từ mô hình tối đa hoá lợi ích của hộ gia đình trong một ngân sách giới hạn. Biến giải thích quan trọng nhất là biến thu nhập. CTR được xem như là một sản phẩm của sự tiêu dùng.
Sự tăng lên trong thu nhập kéo theo sự tăng lên trong tiêu dùng và từ đó dẫn đến sự tăng lên trong phát sinh CTR. Hầu như tất cả các hàm được xây dựng ước tính cho lượng CTR phát sinh ở tất cả các nghiên cứu liên quan đều bao gồm thu nhập như là một biến giải thích. Các nghiên cứu trên thế giới có thể kể đến là nghiên cứu của Kenneth Wertz, Richardson, R. Jr, Kemper và Quigley.
được thực hiện ở khu vực địa phương và nghiên cứu thực nghiệm ở cấp độ quốc tế cũng được thực hiện bởi Nermat Shafik. Các nghiên cứu thực nghiệm nhằm tìm ra hệ số các biến giải thích cho mức độ hình thành CTR sinh hoạt chủ yếu được dựa trên phân tích hồi quy cắt ngang (phân tích hồi quy chéo) thay vì dựa trên phân tích chuỗi thời gian. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra mối liên hệ chặt giữa thu nhập và mức độ phát thải CTR. Nghiên cứu của Quigley và Kemper đã ước tính được hệ số co dãn thu nhập đối với CTR xử lý nằm trong khoảng 0.
Richardson và Havlicek ước tính hệ số co dãn thu nhập đối với CTR xử lý là 0. Wertz ước tính hệ số co dãn thu nhập đối với CTR xử lý là 0. Những ước tính của các nhà nghiên cứu khác ở những năm đầu của thập niên 70 nằm trong khoảng 0.39 Từ các nghiên cứu về mức độ phát sinh chất thải rắn cả ở góc độ khu vực và góc độ quốc tế, chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa lượng CTR phát sinh và thu nhập bình quân đầu người thông qua hệ số co dãn thu nhập cho lượng CTR. Hệ số này đạt giá trị thấp nhất là 0,220 (trong nghiên cứu “Đo lường mức phát sinh chất thải và thu gom CTR hộ gia đình ở thành phố” của Petrovic, W.L) và đạt giá trị cao nhất là 0,67 (trong nghiên cứu “khía cạnh kinh tế của công tác thu gom rác” của Kemper và Quigley).