phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về quản lý nhà nƣớc đối với chất thải rắn sinh hoạt Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 1. Khái quát về chất thải rắn sinh hoạt 1. Chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn (CTR) xuất hiện từ khi con ngƣời có mặt trên trái đất. Con ngƣời khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên trên trái đất để phục vụ đời sống sinh hoạt của mình, đồng thời thải ra CTR.
Ban đầu, sự thải bỏ các chất thải của con ngƣời chƣa gây ra các vấn đề ô nhiễm môi trƣờng trầm trọng do số lƣợng dân cƣ còn thấp và diên tích đất tự nhiên còn rộng lớn. Xã hội loài ngƣời ngày càng phát triển, dần dần con ngƣời sống tập hợp thành các nhóm, bộ lạc, cộng đồng dân cƣ… thì càng ngày, sự tích lũy của CTR trong môi trƣờng càng trở thành vấn đề nghiêm trọng hơn. Thực phẩm thừa, các loại chất thải khác đƣợc thải bỏ bừa bãi tại khắp mọi nơi tạo điều kiện phát triển cho các loài gặm nhấm và các loại sinh vật gây bệnh khác. Do không có kế hoạch quản lý nên các mầm bệnh phát sinh từ CTR đã gây ra các lan truyền bệnh trầm trọng ví dụ nhƣ bệnh dịch hạch ở Châu Âu và giữa thế kỷ 14.
Đến thế kỷ 19, việc kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sực khỏe cộng đồng đƣợc quan tâm. Ngƣời ta nhận thấy rằng CTR phải đƣợc thu gom và xử lý đúng cách thì mới có thể kiểm soát các loại vật gặm nhấm, ruồi, bọ có nguy cơ gây các bệnh truyền nhiễm. Kể từ đó đến này, các định nghĩa về CTR cùng dần ra đời nhiều hơn. Theo Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP), CTR là mọi dạng vật chất hoặc thiết bị, đồ dùng đƣợc thải bỏ, hoặc đƣợc dự định thải bỏ, hoặc yêu cầu phải thải bỏ theo quy định của pháp luật [24].
9 Theo Hội đồng liên minh Châu Âu năm 2008, Chất thải là mọi dạng vật chất hoặc vật dụng mà chủ sở hữu thải bỏ, hoặc dự định thải bỏ, hoặc yêu cầu thải bỏ. Theo Luật bảo vệ môi trƣờng 2014 do Quốc hội ban hành, chất thải là vật chất đƣợc thải ra từ sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [31]. Theo Nghị đinh số 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, CTR đƣợc định nghĩa là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải), đƣợc thải ra từ sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [16]. Theo quan điểm của tác giả, rác thải hiểu đơn giản là những vật, những chất mà con ngƣời không sử dụng nữa và thải ra môi trƣờng xung quanh nhƣ: Thức ăn thừa, bao bì ni lông, phế liệu, giấy, đồ đạc, nội thất không sử dụng nữa… Một quan điểm nữa của tác giả về chất thải công nghiệp là chất thải đƣợc tạo ra từ hoạt động công nghiệp, bao gồm bất kỳ vật liệu nào trở nên vô dụng trong quá trình sản xuất tại các nhà máy, công nghiệp, luyện kim và hoạt động khai thác.
Từ những quan điểm trên, theo tác giả, Chất thải rắn bao gồm tất cả các chất thải ở dạng rắn, phát sinh do các hoạt động của con người và sinh vật, được thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa. Từ định nghĩa về CTR nêu trên, có thể khái quát về chất thải rắn sinh hoạt như sau: CTRSH là CTR phát sinh trong quá trình sinh hoạt của cá nhân, hộ gia đình tại nhà ở, khu thương mại, cơ quan và nơi công cộng. Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 10 CTRSH đƣợc phát sinh từ các nguồn khác nhau. Các nguồn phát sinh CTRSH chủ yếu từ: hộ gia đình; khu thƣơng mại, dịch vụ (nhà hàng, khách sạn, siêu thị, chợ…); công sở (cơ quan, trƣờng học, trung tâm, viện nghiên cứu, bệnh viện…); khu công cộng (nhà ga, bến tàu, bến xe, sân bay, công viên, khu vui chơi giải trí, đƣờng phố…); dịch vụ vệ sinh (quét đƣờng, cắt tỉa cây xanh…); các hoạt động sinh hoạt của cơ sở sản xuất.
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Hình 1.1: Nguồn gốc phát sinh CTRSH Có rất nhiều cách phân loại CTRSH, tuy nhiên, trên thế giới thƣờng sử dụng cách phân loại theo tính chất chất thải. Theo cách này, CTRSH đƣợc phân thành 3 loại: rác hữu cơ, rác vô cơ và rác thải tái chế Có thể khái quát về phân loại trong bảng dƣới đây: Bảng 1.1: Phân loại chất thải rắn sinh hoạt Phân loại Khái niệm Nguồn gốc Rác hữu cơ Rác hữu cơ là loại rác - Phần bỏ đi của thực phẩm sau khi dễ phân hủy và có lấy đi phần chế biến đƣợc thức ăn cho thể đƣa vào tái chế để con ngƣời. đƣa vào sử dụng cho - Phần thực phẩm thừa hoặc hƣ hỏng việc chăm bón và làm không thể sử dụng cho con ngƣời. thức ăn cho động vật.
- Các loại hoa, lá cây, cỏ không đƣợc 11 con ngƣời sử dụng sẽ trở thành rác thải trong môi trƣờng. Rác vô cơ Rác vô cơ là những - Các loại vật liệu xây dựng không thẻ loại rác không thể sử sử dụng hoặc đã qua sử dụng và đƣợc dụng đƣợc nữa cũng bỏ đi. không thể tái chế - Các loại bao bì bọc bên ngoài đƣợc mà chỉ có thể hộp/chai thực phẩm. xử lý bằng cách mang - Các loại túi nilong đƣợc bỏ đi sau ra các khu chôn lấp khi con ngƣời dùng đựng thực phẩm rác thải - Một số loại vật dụng/thiết bị trong đời sống hàng ngày của con ngƣời.
Rác tái chế Rác tái chế là loại rác - Các loại giấy thải. khó phân hủy nhƣng - Các loại hộp/chai/vỏ lon thực phẩm có thể đƣa vào tái chế bỏ đi. để sử dụng nhằm mục đích phục vụ cho con ngƣời. Nguồn: Tác giả tự tổng hợp Thành phần chất thải rắn đô thị tại một số quốc gia đƣợc thể hiện trong bảng 1.2 dƣới đây: Bảng 1.2: Thành phần chất thải rắn đô thị tại một số quốc gia Đơn vị: % khối lƣợng ƣớt Kyoto Trung Quốc Đức Hoa Kỳ Thành phần (Nhật Bản) 2016 2016 2017 2017 Thực phẩm 61,2 39,2 12,1 15,1 Chất thải vƣờn 1,8 2,3 - 13,3 Giấy 9,6 32,2 33,3 25,9 Vải 3,1 6,4 - - Da - 0,3 - - Cao su - 0,4 - - Vải, da, cao su - - - 9,3 Da và cao su 1,3 - - - Nhựa 9,8 9,7 24,2 13,1 Gỗ - 0,8 - 6,2 Kim loại 1,1 2,0 4,5 9,1 12 Thủy tinh 2,1 0,9 12,1 4,4 Gạch, gốm 1,8 0,5 - - Tro 2,5 - - - Khác 5,7 4,7 13,6 3,6 Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020 [2] 1.
Tác động của chất thải rắn sinh hoạt 1. Tác động của chất thải rắn sinh hoạt tới môi trường 1. Ô nhiễm môi trường không khí CTRSH có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu, Dƣới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4 – 63,8%, CO2 – 33,6%, và một số khí khác). Trong đó, CH4 và CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung, đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp.
Khối lƣợng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hƣởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi theo mùa. Lƣợng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng, lƣợng khí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông. Đối với các bãi chôn lấp, ƣớc tính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một sự tác động nào. Khi vận chuyển và lƣu giữ CTR sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trƣờng không khí.
Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong CTR: amoni có mùi khai, phân có mùi hôi, hydrosunfur mùi trứng thối, sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, mecaptan hôi nồng, amin mùi cá ƣơn, diamin mùi thịt thối, cl2 hôi nồng, phenol mùi ốc đặc trƣng. Bên cạnh hoạt động chôn lấp CTR, việc xử lý CTR bằng biện pháp tiêu hủy cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trƣờng không khí. Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu. CTR có thể bao gồm các hợp chất chứa clo, flo, lƣu huỳnh và nitơ, khi đốt lên làm phát thải một lƣợng 13 không nhỏ các chất khí độc hại hoặc có tác dụng ăn mòn.
Mặt khác, nếu nhiệt độ tại lò đốt rác không đủ cao và hệ thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến cho CTR không đƣợc tiêu hủy hoàn toàn làm phát sinh các khí CO, oxit nitơ, dioxin và furan bay hơi là các chất rất độc hại đối với sức khỏe con ngƣời. Một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại (nhƣ thủy ngân, chì) cũng có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi trƣờng. Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thƣờng là lý do khiếu nại của cộng đồng vì dễ nhận biết bằng mắt thƣờng, nhƣng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều chính là các hợp chất (nhƣ kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí. Ô nhiễm môi trường nước CTRSH không đƣợc thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc, làm tắc nghẽn đƣờng nƣớc lƣu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nƣớc với không khí dẫn tới giảm DO trong nƣớc.
CTR hữu cơ phân hủy trong nƣớc gây mùi hôi thối, gây phú dƣỡng nguồn nƣớc làm cho thủy sinh vật trong nguồn nƣớc mặt bị suy thoái. CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nƣớc thành màu đen, có mùi khó chịu. Thông thƣờng các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thống đƣờng ống, kênh rạch thu gom nƣớc thải và các bể chứa nƣớc rác để xử lý trƣớc khi thải ra môi trƣờng. Tuy nhiên, nhiều bãi chôn lấp hiện nay không đƣợc xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nƣớc rò rỉ từ bãi rác đƣợc thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc nghiêm trọng.
Sự xuất hiện của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nƣớc đáng kể.