Phần mở đầu, 3 z - 3 Chƣơng: + Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu + Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. + Chƣơng 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. - Kết luận, kiến nghị và Danh mục tài liệu tham khảo. 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 1.Khái quát về vi phạm hành chính - Khái niệm vi phạm hành chính. Nghiên cứu Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính đƣợc ban hành năm 1989, 1995, 2002 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2011 (có hiệu lực từ ngày 07/07/2012) cho thấy khái niệm vi phạm hành chính đều đã đƣợc đề cập trong văn bản này. Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1989 quy định: “ Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quy tắc quản lý nhà nƣớc mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định pháp luật là phải bị xử lý vi phạm hành chính” [17]. Định nghĩa này sau đó đã đƣợc áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đƣa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật.
Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không đƣợc định nghĩa một cách trực tiếp mà đƣợc hiểu một cách gián tiếp qua khái niệm xử lý vi phạm hành chính: “Xử phạt vi phạm hành chính đƣợc áp dụng đối với cá nhân,cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” [18]. Cho đến nay, cách hiểu về vi phạm hành chính đƣợc các nhà khoa học và thực tiễn hiểu một cách khá thống nhất đó là: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nƣớc mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật”. - Đặc điểm cấu thành vi phạm hành chính. Khái niệm vi phạm hành chính là cơ sở đầu tiên cho việc xác định một vi phạm pháp luật là vi phạm hành chính, đồng thời để phân biệt vi phạm hành chính với các vi 5 z phạm khác.
Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không, cũng nhƣ đánh giá đƣợc đúng tính chất vi phạm và mức độ xâm hại của hành vi thì việc xem xét các đặc điểm cấu thành vi phạm hành chính là vô cùng quan trọng. Những đặc điểm và yếu tố cấu thành này đƣợc mô tả trong các văn bản pháp luật có quy định về vi phạm hành chính, hình thức và biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này. Cũng tƣơng tự nhƣ bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, các dấu hiệu cấu thành vi phạm hành chính thể hiện ở bốn yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. - Mặt khách quan của vi phạm hành chính.
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài của thế giới khách quan của vi phạm hành chính bao gồm: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả thiệt hại của hành vi gây ra cho xã hội, quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm, công cụ, phƣơng tiện vi phạm. - Khách thể của vi phạm hành chính Khách thể vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội đƣợc các quy định về xử lý vi phạm hành chính bảo vệ. Tuy nhiên, dƣới góc độ của vi phạm hành chính, trật tự quản lý nhà nƣớc cũng chính là các quan hệ xã hội đƣợc luật hành chính bảo vệ. Có quan điểm cho rằng, khách thể của vi phạm hành chính là trật tự quản lý nhà nƣớc.
Nhƣng quan điểm nhƣ vậy chƣa chính xác, ngoài trật tự quản lý nhà nƣớc thì khách thể của vi phạm hành chính còn có thể là các quan hệ xã hội khác. Các quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm hại rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nƣớc và xã hội, sở hữu nhà nƣớc, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lý. Cho nên khách thể của vi phạm hành chính phải đƣợc hiểu là các quan hệ xã hội đƣợc quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ. - Chủ thể của vi phạm hành chính Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Cá nhân, tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính. - Cá nhân: 6 z Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con ngƣời đối với hành vi vi phạm. Vì vậy, hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật và không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức hành vi. Cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính chỉ đƣợc coi là chủ thể vi phạm hành chính khi có năng lực pháp lý hành chính.
Ở đây cũng cần phân biệt giữa chủ thể vi phạm hành chính với đối tƣợng vi phạm hành chính. Cá nhân chỉ cần có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính đƣợc xác định là chủ thể vi phạm hành chính. Còn đối tƣợng vi phạm hành chính ngoài năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính còn phải thực hiện một hành vi vi phạm hành chính cụ thể và bị xử phạt hành chính. Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành là mọi công dân.
Trong đó, ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi nếu vi phạm hành chính thì bị xử phạt về vi phạm hành chính do cố ý và chỉ bị phạt cảnh cáo. Ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt hành chính do mình gây ra và khi phạt tiền đối với họ thì mức phạt không quá một nửa mức tiền phạt đối với ngƣời thành niên, trong trƣờng hợp họ không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc ngƣời giám hộ phải nộp thay. Quy định cha mẹ (ngƣời chƣa thành niên vi phạm) phải nộp thay không có nghĩa là xử phạt cả ngƣời không vi phạm. Mà ở đây chúng ta hƣớng tới trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho những ngƣời chƣa thành niên.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức và ngƣời có thẩm quyền bị xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi hành chính liên quan đến việc thi hành công vụ, thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ đƣợc giao. Nếu không có yếu tố này thì họ chỉ bị xử lý nhƣ mọi công dân bình thƣờng. Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời kỳ tập trung huấn luyện và những ngƣời thuộc lực lƣợng công an nhân dân, nếu thực hiện vi phạm hành chính thì bị xử lý nhƣ đối với công dân khác. - Tổ chức: Trong vi phạm hành chính không phải lúc nào ngƣời vi phạm cũng là cá nhân.
Ở trƣờng hợp ngƣời vi phạm là ngƣời nhân danh tổ chức thực hiện vi phạm thì đƣơng nhiên chủ thể vi phạm hành chính ở đây là tổ chức. Pháp luật hành chính coi tổ chức là 7 z chủ thể vi phạm hành chính gồm: cơ quan nhà nƣớc, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức nƣớc ngoài. Tuy nhiên, khi xử phạt hành chính đối với tổ chức, nếu là cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị xã hội sẽ dẫn đến tình trạng tình trạng tiền nhà nƣớc chạy từ túi này sang túi khác. Do đó cần phải truy cứu ngƣời có lỗi trực tiếp vi phạm hành chính để tổ chức bị xử phạt, hoặc cần phải suy xét ngƣời có lỗi để truy cứu trách nhiệm kỷ luật.
Điều này đã đƣợc quy định cụ thể tại điểm b, khoản 1, Điều 6 Pháp lệnh Xử lý Vi phạm hành chính 2002: “Tổ chức bị xử phạt hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính do mình gây ra. Sau khi chấp hành quyết định xử phạt, tổ chức bị xử phạt xác định cá nhân có lỗi gây ra vi phạm hành chính để xác định trách nhiệm pháp lý của ngƣời đó theo quy định của pháp luật”. Đối với cá nhân, tổ chức nƣớc ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam thì bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trƣờng hợp điều ƣớc quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác. - Mặt chủ quan của vi phạm hành chính: Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên trong của cá nhân vi phạm hành chính, bao gồm: lỗi, động cơ, mục đích thực hiện hành vi vi phạm.
Dấu hiệu tập trung cơ bản nhất của mặt chủ quan là yếu tố lỗi: “Lỗi đƣợc hiểu một cách thông thƣờng là điều sai sót, không nên, không phải trong cách cƣ xử, trong hành động”. Trên phƣơng diện pháp lý, lỗi đƣợc xác định là trạng thái tâm lý bên trong của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm của mình và hậu quả của hành vi đó. Tuy nhiên, dƣới góc độ của Luật Hành chính, nội dung lỗi có những nét đặc thù so với lỗi của các ngành luật khác. Trong nhiều trƣờng hợp chỉ cần có lỗi, nghĩa là ngƣời vi phạm có thể biết hoặc có thể biết tính chất sai trái của mình là đủ để xác định vi phạm hành chính xảy ra.
Mặt khác, lỗi trong hành chính không chỉ đặt ra đối với cá nhân vi phạm mà còn đặt ra đối với tổ chức. Thông thƣờng, yếu tố lỗi của tổ chức vi phạm hành chính đƣợc xác định bởi hành vi trái pháp luật của hành chính và hành vi đó theo quy định của pháp luật hành chính phải bị xử phạt hành chính. Nhƣ vậy, không phải đối với tổ 8 z chức vi phạm hành chính chúng ta không và không thể xác định yếu tố lỗi truy cứu trách nhiệm pháp lý hành chính mà việc xem xét lỗi sẽ thông qua việc truy cứu trách nhiệm kỷ luật.