phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động xã hội hóa nhằm hạn chế tình trạng bỏ học ở tiểu học Chƣơng 2. Thực trạng bỏ học ở tiểu học và quản lý hoạt động xã hội hóa nhằm hạn chế tình trạng bỏ học ở tiểu học ở ba xã Xuân Đài – Kim Phượng – Xuân Sơn huyện Tân Sơn, Phú Thọ Chƣơng 3. Các biện pháp quản lý hoạt động xã hội hóa nhằm hạn chế tình trạng bỏ học ở tiểu học 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG XHHGD NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BỎ HỌC Ở TIỂU HỌC 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục Giáo dục là sản phẩm của xã hội, đồng thời là nhân tố đánh dấu nấc thang trình độ văn minh của các thời đại trong lịch sử. Sự tồn tại và phát triển của giáo dục chịu sự chia phối của sự phát triển kinh tế - xã hội và ngƣợc lại với chức năng của mình, GD có vai trò hết sức to lớn trong việc tái sản xuất sức lao động cho xã hội; khơi dậy, thức tỉnh và phát huy tiềm năng sáng tạo của mỗi con ngƣời, tạo ra môi trƣờng cho sự phát triển kinh tế xã hội. Chính vì điều đó mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục và cộng đồng xã hội thƣờng xuyên đƣợc diễn ra cùng với quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời.
Với tầm quan trọng nhƣ vậy, ngày nay giáo dục luôn đƣợc coi là quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia. Việc quan tâm, đầu tƣ, huy động mọi nguồn lực và mọi điều kiện cho phát triển giáo dục là sách lƣợc lâu dài của nhiều quốc gia trên thế giới. Mặc dù bản chất của giáo dục ở các nƣớc có khác nhau nhƣng đều cho thấy XHH sự nghiệp giáo dục là cách làm phổ biến, kể cả ở những nƣớc có nền công ngiệp hiện đại, kinh tế phát triển cao. XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới, nó có nguồn gốc lâu đời và là bƣớc phát triển cuả một chủ trƣơng phát triển giáo dục đƣợc thực hiện từ nhiều năm qua.
Với tƣ tƣởng “ lấy dân làm gốc”, “ Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” đã đƣợc Đảng ta vận dụng sáng tạo, là sức mạnh tiềm tàng cho sự phát triển nền GD nƣớc nhà. Dƣới thời phong kiến và Pháp thuộc, giai cấp thống trị và thực dân chỉ mở rất ít trƣờng học, chủ yếu trƣờng học đƣợc mở ra cho con em quý tộc phong kiến và con nhà giàu. Con em lao động không đƣợc chính quyền quan tâm, ngƣời dân muốn học phải tự lo dƣới hình thức học ở trƣờng Tƣ do các thầy đồ 6 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ tự mở lớp hoặc do dân tự tổ chức nên hầu hết phải chịu cảnh mù chữ. Cách mạng tháng thành công là tiền đề tiên quyết để Đảng ta thực hiện các quan điểm “ giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”.
Ngay từ những ngày đầu của nƣớc Việt Nam độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra “ Lời kêu gọi chống nạn thất học”. Trong lời kêu gọi, Ngƣời đã nêu rõ phƣơng châm, nhiệm vụ chống nạn thất học, chống nạn mù chữ “ Những ngƣời đã biết chữ hãy dạy cho những ngƣời biết chữ…những ngƣời chƣa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết, vợ chƣa biết chữ thì chồng bảo, em chƣa biết chữ thì anh bảo, cha mẹ chƣa biết chữ thì con cái bảo, ngƣời ăn ngƣời làm chƣa biết chữ thì chủ nhà bảo; Các ngƣời giàu có thì mở lớp học tƣ gia dạy cho những ngƣời chƣa biết chữ”[25]. Hƣởng ứng lời kêu gọi chống nạn thất học của Hồ Chủ Tịch, cả nƣớc đã trở thành một xã hội học tập. Tiêu biểu, sôi động nhất đó là phong trào bình dân học vụ từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngƣợc, từ hậu phƣơng đến nơi tiền tuyến…ngƣời ngƣời đi học, nhà nhàđi học, trƣờng lớp chỉ là những nhà, lá đơn sơ.
Tƣ tƣởng giáo dục “ai cũng đƣợc học hành” của Hồ Chí Minh đã thực sự đi vào cuộc sống. Đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, cả hai niềm Nam, Bắc cùng thực hiện một hệ thống giáo dục và đã đạt đƣợc những thành qủa nhất định. Song do cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp, nền giáo dục của chúng ta không khai thác triệt để bài học phát huy sức mạnh của toàn dân tộc để phát triển giáo dục. Thay vì thực hiện sự “quản lý giáo dục của nhà nƣớc”, chúng ta đã “ nhà nƣớc hóa giáo dục” làm cho giáo dục rơi vào thế bị động, không thu hút đƣợc các nguồn lực của toàn xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục.
Tình trạng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục không đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc, chƣa bắt kịp xu thế phát triển chung của thời đại. Sự định hƣớng mang tính cách mạng và năng động đối với nền kinh tế quốc gia, tất yếu đặt ra những cơ hội và thách thức đối với sự phát giáo dục. Đòi hỏi sự nghiệp giá dục và đào tạo cũng phải đổi mới cách nhìn nhận về vị 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ trí, vai trò của mình trong công cuộc đổi mới đất nƣớc. Bên cạnh đó việc đa dạng hóa phát triển giáo dục lại một lần nữa lại ngày càng phát huy ƣu thế của nó.
“ Việc “huy động toàn xã hội toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân cùng góp sức xây dựng nền giáo dục quốc phòng toàn dân dƣới sự quản lí của nhà nƣớc” đã trở nên vô cùng bức thiết. Đảng ta đã khảng định “ xã hội hóa” là một trong những quan điểm để hoạch định các chính sách xã hội. Nghị quyết lần 2 Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa VIII ( tháng 12-1996) chỉ rõ: “ Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nƣớc và của toàn dân” [4]. Đến nghị quyết TW 6 khóa IX, Đảng ta khảng định: “ Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục, xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, là giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục” [5].
Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ( tháng 4-2006) đã chỉ rõ: “ Thực hiện xã hội hóa giáo dục. Huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp…để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội” [6]. Để thực hiện chủ trƣơng XHH, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về Phƣơng hƣớng và chủ trƣơng xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách XHH nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực trong nhân dân, trong vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao.
Ngày 18/4/2005 chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ về đẩy mạnh XHH các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao [20]. Bộ GD&ĐT ban hành một số văn bản hƣớng dẫn thực hiện công tác XHHGD vv… Trong thời kỳ đổi mới, cùng với các Văn kiện, các Nghị định, Thông tƣ, Nghị quyết của Đảng, Nhà nƣớc về công tác giáo dục; các cơ quan Liên Bộ, các nhà khoa học, các nhà quản lí giáo dục ( QLGD) đã họp bàn và nghiên cứu 8 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ về vấn đề XHHGD. Nguyên Bộ trƣởng giáo dục Phạm Minh Hạc đã khảng định: “ Xã hội hóa công tác giáo dục là một tƣ tƣởng chiến lƣợc, một bộ phận của đƣờng lối giáo dục, một con đƣờng phát triển giáo dục nƣớc ta” [ 35; 16]; Tác giả Phạm Tất Dong cũng nhấn mạnh: Phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hóa và đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó là tƣ tƣởng chiến lƣợc của Đảng. Tƣ tƣởng đó đƣợc tổng kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lí của cách mạng Việt Nam.
Vấn đề XHHGD cũng đã đƣợc nghiên cứu cả về lí luận và thực tiễn. Có nhiều tác giả đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề XHHGD nhƣ nhóm tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình trong cuốn “ Xã hội hóa giáo dục nhận thức và hành động, các nhà nghiên cứu Nguyễn Mậu Bành, Thái Duy Tuyên, Đào Huy Ngân cũng đã đề cập đến những vấn đề lí luận và thực tiễn công tác XHHGD. Bên cạnh đó còn có nhiều đề tài và luận văn đã đề cập và nêu ra nhiều giải pháp công tác XHHGD nhƣ: Luận văn của tác giả Phạm Thúy Hiền với đề tài: “ Vấn đễ xã hội hóa giáo dục mầm non với sự nghiệp phát triển giáo dục”; luận văn Thạc sĩ của Trần Hồng Diễm về: “ Biện pháp tăng cƣờng công tác xã hội hóa sự nghiệp giáo dục mầm non trên địa bàn thành phố Bắc Ninh”… 1. Nghiên cứu về quản lí giáo dục tiểu học ở cấp địa phương Đất nƣớc đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực trí tuệ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hóa đang là một thách thức với nƣớc ta, đòi hỏi nhà nƣớc và ngành giáo dục phải có một chiến lƣợc phát triển nhân tài.
Trong hệ thống giáo dục, giáo dục tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dƣỡng nhân tài cho đất nƣớc. Trong đó bậc GD Tiểu học có vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục, bậc học đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên 9 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn/ bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu , những đƣờng nét cơ bản của nhân cách.
Do vậy giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, với tính sƣ phạm đặc trƣng.