Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu giải pháp giảm ứng suất nhiệt của bê tông đầm lăn trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện tại việt nam

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu giải pháp giảm ứng suất nhiệt bê tông đầm lăn, ứng dụng hiệu quả trong xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện tại Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

151
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng nghiên cứu

4. Phạm vi nghiên cứu

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp lý thuyết

5.2. Phương pháp mô hình toán

6. Nội dung nghiên cứu

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án

7.1. Ý nghĩa khoa học

7.2. Ý nghĩa thực tiễn

8. Cấu trúc của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

1.1. Bê tông đầm lăn

1.2. Tính năng cơ học của BTĐL

1.2.1. Cường độ kháng nén của BTĐL

1.2.2. Cường độ kháng kéo của BTĐL

1.2.3. Mô đun đàn hồi của BTĐL

1.3. Biến dạng của BTĐL

1.3.1. Từ biến của BTĐL

1.3.2. Co ngót của BTĐL

1.3.3. Giá trị kéo dãn giới hạn của BTĐL

1.4. Tính năng cơ học của BTĐL theo thời gian

1.5. Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới và tại Việt Nam

1.5.1. Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới

1.5.2. Tình hình xây dựng đập BTĐL tại Việt Nam

1.6. Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL

1.6.1. Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt BTĐL trên thế giới

1.6.2. Tình hình nghiên cứu nhiệt và ứng suất nhiệt BTĐL tại Việt Nam

1.7. Vấn đề nứt do nhiệt đối với đập BTĐL

1.8. Vấn đề cần nghiên cứu đặt ra đối với luận án

1.9. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: NHIỆT VÀ KHỐNG CHẾ ỨNG SUẤT NHIỆT TRONG ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN

2.1. Nguồn phát sinh nhiệt trong BTĐL

2.2. Vấn đề trao đổi nhiệt đối với BTĐL

2.2.1. Trao đổi nhiệt bằng dẫn nhiệt

2.2.2. Trao đổi nhiệt đối lưu

2.2.3. Trao đổi nhiệt bức xạ

2.3. Cơ chế nứt do nhiệt trong bê tông khối lớn

2.3.1. Nứt bề mặt

2.4. Yêu cầu khống chế nhiệt cho đập BTĐL

2.4.1. Chênh lệch nhiệt độ tại đáy đập

2.4.2. Chênh lệch nhiệt độ lớp trên và dưới

2.4.3. Chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài

2.4.3.1. Ảnh hưởng của chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài
2.4.3.2. Thực tế khống chế chênh lệch nhiệt độ trong và ngoài

2.5. Phương pháp giải bài toán nhiệt

2.5.1. Các phương pháp giải bài toán nhiệt

2.5.1.1. Phương pháp giải tích
2.5.1.2. Phương pháp toán tử
2.5.1.3. Phương pháp gần đúng

2.5.2. Lựa chọn phương pháp giải bài toán nhiệt

2.6. Cơ sở tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt theo phương pháp phần tử hữu hạn

2.6.1. Xác định trường nhiệt độ

2.6.2. Xác định trường ứng suất

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: TÍNH TOÁN NHIỆT VÀ ỨNG SUẤT NHIỆT TRONG ĐẬP BTĐL THEO PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN VÀ ỨNG DỤNG TRONG PHẦN MỀM ANSYS

3.1. Tính toán nhiệt thủy hóa của vật liệu chất kết dính BTĐL

3.2. Tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL trong quá trình thi công bằng ngôn ngữ lập trình tham số (APDL) trong ANSYS

3.2.1. Giới thiệu về phần mềm ANSYS

3.2.2. Giải bài toán bằng phần mềm ANSYS

3.2.3. Công năng phân tích nhiệt bằng phần mềm ANSYS

3.2.4. Cơ sở xây dựng bài toán tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTĐL

3.2.4.1. Sơ đồ khối tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTTL
3.2.4.2. Xây dựng bài toán tính nhiệt và ứng suất nhiệt đập BTTL
3.2.4.3. Mô tả kết cấu đập
3.2.4.4. Mô hình hóa kết cấu đập BTĐL
3.2.4.5. Xây dựng bài toán tính nhiệt và ứng suất nhiệt trong đập trọng lực BTĐL

3.2.5. Kiểm nghiệm tính toán nhiệt cho đập BTĐL Sơn La

3.2.5.1. Giới thiệu công trình
3.2.5.2. Các chỉ tiêu cơ lý và nhiệt của bê tông và đá nền
3.2.5.3. Các điều kiện biên về nhiệt
3.2.5.4. Tiến độ thi công
3.2.5.5. Kết quả quan trắc nhiệt trong thân đập BTĐL Sơn La
3.2.5.6. Mặt cắt kiểm tra
3.2.5.7. Mô hình tính toán
3.2.5.8. Kết quả tính toán

3.3. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: BIỆN PHÁP GIẢM NHIỆT VÀ ỨNG SUẤT NHIỆT ĐẬP BÊ TÔNG ĐẦM LĂN PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN VIỆT NAM

4.1. Cơ sở phân vùng nghiên cứu

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

4.1.2. Điều kiện nhiệt độ và độ ẩm môi trường

4.1.3. Điều kiện nguồn cung ứng vật liệu PGK

4.2. Phân vùng nghiên cứu

4.3. Các tham số cơ bản dùng cho nghiên cứu

4.3.1. Các tham số đầu vào cố định

4.3.2. Tham số khống chế nứt

4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ không khí đến ứng suất nhiệt đập BTĐL

4.4.1. Cơ sở nghiên cứu

4.4.2. Khi nhiệt độ không khí xem là nhiệt độ trung bình năm

4.4.3. Khi nhiệt độ không khí thay đổi theo thời gian (ngày)

4.5. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ ẩm không khí đến ứng suất nhiệt đập BTĐL

4.5.1. Cơ sở nghiên cứu

4.5.2. Kết quả tính toán

4.6. Nghiên cứu ảnh hưởng của thành phần khoáng của vật liệu XM đến ứng suất nhiệt đập BTĐL

4.6.1. Cơ sở nghiên cứu

4.6.2. Kết quả tính toán

4.7. Nghiên cứu ảnh hưởng nhiệt độ đổ bê tông đến ứng suất nhiệt đập BTĐL

4.7.1. Cơ sở nghiên cứu

4.7.2. Kết quả tính toán

4.8. Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng PGK đến ứng suất nhiệt đập BTĐL

4.8.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng PGK đến nhiệt và ứng suất nhiệt thân đập BTĐL

4.8.2. Kiến nghị hàm lượng PGK trên tổng lượng chất kết dính cho từng khu vực

4.9. Đề xuất giải pháp giảm ứng suất nhiệt BTĐL hợp lý cho từng khu vực

4.9.1. Cơ sở đề xuất giải pháp hợp lý

4.9.2. Đề xuất giải pháp giảm ứng suất nhiệt hợp lý cho từng khu vực

4.9.2.1. Đối với khu vực miền núi phía Bắc
4.9.2.2. Đối với khu vực Bắc Trung bộ
4.9.2.3. Đối với khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên

4.10. Kiểm nghiệm tính toán ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn – Thanh Hóa

4.10.1. Giới thiệu công trình

4.10.2. Giới thiệu công trình

4.10.3. Các chỉ tiêu cơ lý và nhiệt của bê tông và đá nền

4.10.4. Các điều kiện biên về nhiệt

4.10.5. Mặt cắt kiểm tra

4.10.6. Kết quả quan trắc nhiệt

4.10.7. Tính toán nhiệt và ứng suất nhiệt đập

4.10.7.1. Mô hình tính toán
4.10.7.2. Kết quả tính toán

4.10.8. Giải pháp giảm ứng suất nhiệt đập BTĐL Trung Sơn

4.11. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Những đóng góp mới của Luận án

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC I: BẢNG TỔNG HỢP KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM THÀNH PHẦN KHOÁNG CỦA MỘT SỐ LOẠI XI MĂNG ĐIỂN HÌNH

PHỤ LỤC II: CÁC CHƯƠNG TRÌNH TÍNH TOÁN NHIỆT - ỨNG SUẤT NHIỆT

Tóm tắt

I. Giới thiệu về bê tông đầm lăn và ứng suất nhiệt

Bê tông đầm lăn (BTĐL) là một loại vật liệu xây dựng đặc biệt, được sử dụng rộng rãi trong các công trình thủy lợi và thủy điện tại Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của BTĐL là khả năng thi công nhanh chóng và tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, một trong những vấn đề nghiêm trọng mà BTĐL gặp phải là ứng suất nhiệt trong quá trình thi công. Giải pháp giảm ứng suất nhiệt là cần thiết để đảm bảo độ bền và an toàn cho các công trình. Nghiên cứu cho thấy, ứng suất nhiệt bê tông chủ yếu phát sinh do quá trình thủy hóa của vật liệu chất kết dính, dẫn đến nứt và giảm tuổi thọ công trình. Việc hiểu rõ về cơ chế phát sinh ứng suất nhiệt sẽ giúp các kỹ sư thiết kế và thi công có những biện pháp khống chế hiệu quả.

1.1. Tình hình xây dựng đập BTĐL tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các công trình BTĐL đã được xây dựng với quy mô lớn, như đập thủy điện Sơn La. Tuy nhiên, nhiều công trình đã gặp phải tình trạng nứt do ứng suất nhiệt. Việc áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế từ nước ngoài mà không xem xét điều kiện địa phương đã dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các giải pháp giảm ứng suất nhiệt là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho các công trình thủy lợi và thủy điện.

II. Nguồn phát sinh và khống chế ứng suất nhiệt

Nhiệt độ trong quá trình thi công BTĐL có thể tăng cao do nhiều yếu tố, bao gồm nhiệt độ môi trường và quá trình thủy hóa của vật liệu. Giải pháp khống chế ứng suất nhiệt bao gồm việc điều chỉnh hàm lượng và thành phần của vật liệu chất kết dính. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng phụ gia khoáng (PGK) có thể làm giảm đáng kể ứng suất nhiệt bê tông. Các phương pháp như điều chỉnh nhiệt độ đổ bê tông và kiểm soát độ ẩm môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu ứng suất nhiệt. Việc áp dụng các biện pháp này không chỉ giúp giảm thiểu nứt mà còn nâng cao độ bền cho công trình.

2.1. Các phương pháp khống chế ứng suất nhiệt

Các phương pháp khống chế ứng suất nhiệt bao gồm việc sử dụng các loại vật liệu có khả năng giảm nhiệt độ trong quá trình thi công. Việc lựa chọn hàm lượng PGK phù hợp với từng khu vực cũng là một trong những giải pháp giảm ứng suất nhiệt hiệu quả. Nghiên cứu cho thấy, việc điều chỉnh nhiệt độ không khí và độ ẩm cũng có ảnh hưởng lớn đến ứng suất nhiệt bê tông. Các biện pháp này cần được áp dụng đồng bộ để đạt hiệu quả cao nhất trong việc khống chế ứng suất nhiệt.

III. Đề xuất giải pháp giảm ứng suất nhiệt cho từng khu vực

Việt Nam có nhiều vùng miền với điều kiện khí hậu và địa chất khác nhau, do đó, các giải pháp giảm ứng suất nhiệt cần được điều chỉnh cho phù hợp. Đối với khu vực miền núi phía Bắc, việc sử dụng các loại PGK có khả năng giảm nhiệt độ trong quá trình thi công là rất quan trọng. Trong khi đó, khu vực Bắc Trung Bộ có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát độ ẩm và nhiệt độ không khí. Đối với khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, việc điều chỉnh hàm lượng xi măng và PGK cũng cần được xem xét kỹ lưỡng. Các giải pháp này không chỉ giúp giảm ứng suất nhiệt bê tông mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế cho các công trình.

3.1. Kiểm nghiệm tính toán ứng suất nhiệt

Việc kiểm nghiệm tính toán ứng suất nhiệt trong các công trình BTĐL là rất cần thiết để đánh giá hiệu quả của các giải pháp giảm ứng suất nhiệt. Các mô hình tính toán cần được xây dựng dựa trên các điều kiện thực tế của từng khu vực. Kết quả từ các mô hình này sẽ cung cấp thông tin quý giá cho các kỹ sư trong việc thiết kế và thi công các công trình thủy lợi và thủy điện tại Việt Nam.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu giải pháp giảm ứng suất nhiệt của bê tông đầm lăn trong xây dựng công trình thủy lợi thủy điện tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu, 4 Chương, Kết luận và kiến nghị; 66 tài liệu tham khảo, 04 tài liệu tác giả đã công bố. Nội dung chính của luận án được trình bày trong 118 trang và phụ lục với 72 hình vẽ và 27 bảng. TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1. Bê tông đầm lăn BTĐL là loại bê tông không có độ sụt được tạo bởi hỗn hợp bao gồm cốt liệu nhỏ (cát thiên nhiên hoặc cát nghiền), cốt liệu lớn (đá dăm), chất kết dính (XM, PGK hoạt tính nghiền mịn), nước và phụ gia hóa học.

Sau khi trộn đều, vận chuyển, san rải hỗn hợp được đầm chặt theo yêu cầu của thiết kế bằng thiết bị đầm lăn [43]. Công nghệ xây dựng BTĐL có ưu điểm là thi công nhanh, hạ giá thành và giảm chi phí cho công trình tạm phục vụ dẫn dòng thi công. Thực tiễn cho thấy do giảm hàm lượng XM/CKD nên nhiệt thủy hóa của BTĐL giảm hơn so với CVC nhưng lại có tốc độ nhiệt thủy hóa chậm hơn. Tuy nhiên BTĐL lại tồn tại vấn đề là tính chống thấm kém và được coi là vật liệu không đẳng hướng do đầm nén lớp mỏng.

Vì vậy, ở nhiều nước người ta sử dụng BTĐL làm lõi đập, bao bọc xung quanh là lớp vỏ bê tông thường chống thấm dày 2÷3 m hoặc sử dụng BTĐL có tính chống thấm cao và thi công trên toàn mặt cắt [4][5]. Tính năng cơ học của BTĐL 1. Cường độ kháng nén của BTĐL Cường độ kháng nén là tính chất quan trọng nhất của bê tông nói chung và BTĐL nói riêng và thường được xem xét đầu tiên. Giá trị cường độ kháng nén của BTĐL (fc) được xác định thông qua thí nghiệm nén mẫu với hình dạng, kích thước, ngày tuổi không thống nhất giữa các nước.

Ngoài ra giá trị cường độ kháng nén của BTĐL còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính chất vật liệu CKD, tỉ lệ nước trên chất kết dính (N/CKD), hàm lượng trộn phụ gia khoáng trong chất kết dính (PGK/CKD), cường độ và độ sạch cốt liệu, điều kiện bảo dưỡng bê tông. Theo một nghiên cứu của Trung Quốc [14], cường độ kháng nén của BTĐL tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày được xác định theo công thức (1.2): f c28  19, 459CKD / N-0,147PGK/CKD-11,681 (MPa) (1.1) 4 f c90  19,326CKD / N-0,333PGK/CKD+5,968 (MPa) (1.2) Từ công thức trên có thể thấy rằng cường độ kháng nén của BTĐL giảm khi hàm lượng trộn PGK/CKD tăng lên. Cường độ kháng kéo của BTĐL Giá trị cường độ kháng kéo của BTĐL (ft) có thể xác định trực tiếp thông qua thí nghiệm kéo mẫu hoặc tính toán theo công thức kinh nghiệm từ giá trị cường độ kháng nén. Cường độ kháng kéo của BTĐL mặc dù có liên quan với chủng loại và cấp phối vật liệu nhưng nói chung tăng lên khi cường độ kháng nén của BTĐL tăng lên.

Cường độ kháng kéo của BTĐL tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày được xác định theo công thức (1. Mô đun đàn hồi của BTĐL Mô đun đàn hồi của BTĐL (Ec) là tham số quan trọng khi tính toán phân bố ứng suất trong kết cấu đập BTĐL. Do thí nghiệm xác định mô đun đàn hồi tương đối khó, nói chung đều được xác định thông qua cường độ kháng nén của BTĐL. Công thức kinh nghiệm xác định mô đun đàn hồi đều đưa ra từ kết quả thống kê thực nghiệm.

Đối với bê tông nói chung các quốc gia khác nhau có công thức xác định khác nhau, ví dụ: 100 Quy phạm Trung Quốc [29]: E c  (GPa) (1.5) 34,7 2, 2  fc Quy phạm ACI của Mỹ [41]: E c  4, 73 f c (GPa) (1.6) 5,5 Tiêu chuẩn BS8110 của Anh [46]: E c  fc (GPa) (1.7) c Tiêu chuẩn của Châu Âu [49]: E c  6 f c (GPa) (1.8) 5 Theo TCXDVN 356-2005 [32] giá trị của Ec phụ thuộc vào cấp độ bền chịu nén của bê tông và trong khoảng từ (21 ~ 40)  103 MPa. Do cường độ kháng nén của BTĐL phụ thuộc tỉ lệ N/CKD và hàm lượng PGK/CKD, vì vậy mô đun đàn hồi của BTĐL tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày có thể được xác định theo công thức (1.9) E c90  21, 217CKD / N-0,197PGK/CKD-1,376 (GPa) (1.10) Từ công thức trên có thể thấy rằng mô đun đàn hồi của BTĐL giảm khi hàm lượng trộn PGK/CKD tăng lên. Biến dạng của BTĐL BTĐL trong quá trình đông cứng và trong môi trường sử dụng khác nhau đều có thể xuất hiện biến dạng, biến dạng của BTĐL bao gồm co ngót hóa học, co dãn do độ ẩm, biến dạng nhiệt, biến dạng do tải trọng, v. Theo tính chất biến dạng có thể phân thành biến dạng hồi phục và biến dạng không hồi phục, biến dạng đàn hồi và biến dạng dẻo.

Từ biến của BTĐL Khi kết cấu BTĐL chịu tác dụng của tải trọng không đổi trong thời gian dài, biến dạng BTĐL tăng lên theo thời gian được gọi là từ biến. Thời kỳ đầu gia tải, từ biến của BTĐL tăng lên khá nhanh sau đó dần dần giảm xuống, một vài năm sau tăng lên rất chậm. BTĐL sau khi dỡ tải, một phần biến dạng hồi phục tức thời, biến dạng này nhỏ hơn biến dạng đàn hồi phát sinh khi gia tải ban đầu. Trong một khoảng thời gian sau khi dỡ tải, biến dạng vẫn có thể tiếp tục hồi phục gọi là hồi phục từ biến.

Biến dạng không có khả năng hồi phục gọi là biến dạng dư. BTĐL bất kể là chịu nén, chịu kéo hoặc chịu uốn đều có hiện tượng từ biến, nguyên nhân phát sinh từ biến nói chung là do tính bám dính của cốt liệu đá và XM dưới tác dụng của tải trọng trong một thời gian dài bị nới lỏng. Biến dạng do từ biến dưới tác dụng của đơn vị ứng suất gọi là độ từ biến, thông thường khoảng (10~300)10-6 MPa. 6 Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến giá trị từ biến như chủng loại XM, tính chất cốt liệu, tỉ lệ N/XM, tỉ lệ vữa, chất phụ gia cùng với ngày tuổi bê tông khi gia tải, giá trị ứng suất, thời gian duy trì tải trọng, nhiệt độ và độ ẩm của môi trường, hình dạng và kích thước kết cấu, v.

Co ngót của BTĐL Khi BTĐL rắn chắc trong không khí, thể tích của nó có thể giảm nhỏ, hiện tượng này gọi là co ngót. Co ngót là biến dạng phát sinh do thể tích thay đổi mà bê tông không chịu ngoại lực. Thông thường cho rằng co ngót bê tông là do thể tích bản thân khối kết dính bị co ngót và bê tông co ngót thể tích do mất nước. Thời kỳ đầu co ngót phát triển rất nhanh, sau đó dần dần chậm lại, tổng thể quá trình co ngót có thể kéo dài 2 năm trở lên.

Khi BTĐL không thể tự do co ngót, trong bê tông phát sinh ứng suất kéo dẫn đến phá hoại nứt. Nhân tố ảnh hưởng đến co ngót của BTĐL chủ yếu có nhiệt độ và độ ẩm môi trường xung quanh, hình dạng và kích thước mặt cắt cấu kiện, tỉ lệ cấp phối, tính chất cốt liệu, tính chất XM, điều kiện bảo dưỡng. nên tính toán chính xác co ngót bê tông rất khó khăn. Giá trị kéo dãn giới hạn của BTĐL Giá trị kéo dãn giới hạn của BTĐL (p) tại thời điểm 28 ngày và 90 ngày có liên quan đến cường độ kháng kéo của BTĐL có thể được xác định theo công thức (1.12) Từ công thức trên có thể thấy rằng giá trị kéo dãn giới hạn của BTĐL tăng lên khi cường độ kháng kéo của BTĐL tăng lên.

Tính năng cơ học của BTĐL theo thời gian Quan hệ ứng suất - biến dạng của vật liệu BTĐL là biểu thức toán học miêu tả quy luật vận động và quan hệ giữa lực, nhiệt độ, biến dạng, v.v… của nội bộ kết cấu trong không gian và thời gian. BTĐL là vật liệu hỗn hợp được tạo thành từ XM, PGK, cốt liệu thô, cốt liệu mịn và nước. Khi mới hình thành, trong bê tông đã tồn tại các khuyết tật như các lỗ rỗng, vết nứt nhỏ, v. Dưới tác dụng của tải trọng ngoài, do tập trung ứng suất tại các khuyết tật nên chúng dần dần phát triển, từ đó dẫn đến quan hệ ứng suất - biến dạng của phần tử cốt liệu từng bước đi chệch quan hệ tuyến tính và xuất hiện đặc tính cơ bản của phi tuyến tính.

Đồng thời do các thành phần vật liệu bê tông có đặc trưng phân bố ngẫu nhiên, vì vậy bất kể là phân bố khuyết tật ban đầu hay là quá trình diễn biến khuyết tật về sau đều không thể ngăn ngừa đặc trưng ngẫu nhiên sẵn có của bê tông. Phi tuyến tính và ngẫu nhiên là hai đặc trưng cơ bản của quan hệ ứng suất - biến dạng bê tông. Hiện nay quan hệ ứng suất - biến dạng của vật liệu bê tông nói chung và BTĐL nói riêng có thể phân thành mấy nhóm mô hình sau [42][48]: - Mô hình cơ học đàn hồi tuyến tính và phi tuyến tính; - Mô hình cơ học tính dẻo; - Mô hình cơ học phá hủy. Do tính phức tạp của vật liệu BTĐL, hiện nay vẫn chưa có một mô hình vật liệu BTĐL duy nhất được mọi người công nhận.

Nói chung căn cứ vào đặc điểm chịu lực, phạm vi ứng suất và độ chính xác tính toán, v. của kết cấu phân tích để lựa chọn mô hình thích hợp. Đương nhiên để xác định chính xác cần phải tiến hành nghiên cứu thực nghiệm để xác lập các hàm biểu diễn quá trình phát triển các chỉ tiêu cơ lý của BTĐL theo thời gian ứng với cấp phối được lựa chọn tối ưu cho từng công trình cụ thể. Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới và tại Việt Nam 1.

Tình hình xây dựng đập BTĐL trên thế giới Trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến 1970 có những cách sử dụng vật liệu có thể coi là tiền đề của BTĐL. Cụ thể, năm 1961 hỗn hợp bê tông không độ sụt được rải bằng xe ủi đã áp dụng cho đập Alpe Gera tại Italia và đập Manicongan ở Canada. Hỗn hợp bê tông được đầm chặt bằng các loại đầm dùi gắn sau máy ủi hoặc đầm chặt bằng máy ủi [43]. Cũng trong năm 1961 hỗn hợp cát đá trộn với XM được rải và đầm bằng các thiết bị thi công đập đất để xây dựng tường quây của đập Thanh Môn, Đài Loan [4].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Giải pháp giảm ứng suất nhiệt bê tông đầm lăn trong xây dựng thủy lợi, thủy điện tại Việt Nam" trình bày các phương pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu ứng suất nhiệt trong quá trình thi công bê tông đầm lăn, một yếu tố quan trọng trong xây dựng các công trình thủy lợi và thủy điện. Tài liệu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ thuật và giải pháp cụ thể mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát ứng suất nhiệt để đảm bảo độ bền và tuổi thọ của công trình. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích giúp nâng cao hiệu quả thi công và giảm thiểu rủi ro trong các dự án xây dựng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các giải pháp kỹ thuật trong xây dựng, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu lựa chọn thông số thiết kế cọc đất xi măng xử lý nền đường ở sóc trăng trà vinh ứng dụng cho đường vào cầu c16 khu kinh tế định an, nơi nghiên cứu về thiết kế cọc đất xi măng, hay Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng công trình thủy nghiên cứu ứng dụng cọc xi măng đất gia cố nền công trình xây dựng trên địa bàn thành phố hội an quảng nam, cung cấp cái nhìn về ứng dụng cọc xi măng trong xây dựng công trình thủy. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp kỹ thuật trong lĩnh vực xây dựng.