CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG 1.1 Tổng quan về điện năng và kinh doanh điện năng 1.1 Khái niệm chung 1.1 Điện năng Điện năng là năng lượng sinh ra bởi sự chuyển dời có hướng của các electron theo thời gian. Có thể hiểu cách khác điện năng là lượng công suất tác dụng của dòng điện sản xuất, truyền tải hoặc tiêu thụ trong một khoảng thời gian (kWh). Điện năng có đặc điểm cơ bản là hầu như không tích trữ được, nên quá trình sản xuất và tiêu thụ xẩy ra đồng thời. Năng lượng điện là một dạng năng lượng rất phổ biến, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sản xuất và dân sinh, là một trong những động lực tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống của cộng đồng.2 Kinh doanh điện năng Kinh doanh điện năng là khâu cuối cùng trong hoạt động sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện năng.
Hoạt động kinh doanh điện năng được tổ chức thực hiện thống nhất tại tất cả các Đơn vị Điện lực trong Tập Đoàn Điện lực Việt Nam theo quy trình xác định, nhằm đáp ứng đầy đủ, an toàn và tin cậy nhu cầu sử dụng điện của khách hàng và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng. Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu đánh giá toàn bộ quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh, nhận dạng tiềm năng có thể khai thác ở doanh nghiệp nhằm đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với ngành điện, phân tích hoạt động kinh doanh sẽ đánh giá các chỉ tiêu về kinh doanh như: doanh thu, số lượng khách hàng, tốc độ tăng trưởng phụ tải cũng như các chỉ tiêu: tổn thất điện năng, giá bán bình quân v. Ngoài ra, cần phát hiện và nhận biết được những khu vực, thời điểm tổn thất bất thường trên lưới điện cũng như xác định tiềm năng có thể khai thác của đơn vị nhằm đề ra các phương án giảm tổn thất, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.2 Tổn thất điện năng 1.1 Khái niệm và phân loại tổn thất điện năng Tổn thất điện năng là sự hao hụt năng lượng điện của một quá trình, được tính bằng hiệu số giữa tổng lượng điện năng do các nhà máy điện phát ra với tổng lượng điện năng các phụ tải nhận được trong cùng một khoảng thời gian.
Lượng tổn thất điện năng được tính bằng công thức: ∆ = Đ − (1.1) Trong đó: DA - Lượng điện năng tổn thất trong quá trình truyền tải, tính từ đầu nguồn đến các phụ tải (kWh); Đ - Tổng sản lượng điện nhận từ các nhà máy (kWh); - Sản lượng điện thương phẩm bán cho các hộ tiêu dùng (kWh). Tỷ lệ tổn thất điện năng được tính theo công thức: ∆ %∆A = × 100 (1.2) đ Trong đó: ∆A - Lượng điện năng tổn thất (kWh); Ađầu nguồn - Tổng sản lượng điện các nhà máy (kWh). Tổng thất điện năng được chia thành tổn thất kỹ thuật và tổn thất kinh doanh. Tổn thất điện năng kỹ thuật là tổn thất sinh ra do tính chất vật lý của quá trình truyền tải điện, tổn thất này phụ thuộc tính chất của dây dẫn và vật liệu cách điện, điều kiện môi trường, dòng điện và điện áp.
Tổn thất kỹ thuật là tổn thất chủ yếu và phụ thuộc vào mức độ đầu tư công nghệ, kỹ thuật. Tổn thất kỹ thuật trong các mạng điện là đặc biệt quan trọng, bởi vì nó dẫn đến tăng vốn đầu tư để sản xuất và truyền truyền tải điện năng. Tổn thất kỹ thuật được xác định theo thông số chế độ và các thông số của các phần tử trong mạng điện. Thông thường, tổn thất trong quá trình truyền tải và phân phối điện được chia ra như sau: khoảng 65% tiêu tốn trên đường dây, 30% tiêu tốn trong máy biến áp, các phần tử khác của mạng chiếm khoảng 5%.
Tổn thất kinh doanh (thương mại): Cùng với tổn thất kỹ thuật còn có một thành phần tổn thất khác chiếm tỷ lệ không nhỏ, đó là tổn thất thương mại hay tổn thất kinh doanh. Tổn thất kinh doanh do nhiều yếu tố gây nên: Do bị ăn 5 cắp điện, do sai số công tơ, do công tơ kẹt cháy…Các yếu tố này thường xuyên thay đổi nên việc xác định rất khó khăn. Vì vậy, trong thực tế tổn thất kinh doanh được coi là tổn thất điện năng thực tế trừ đi lượng tổn thất kỹ thuật. Có thể nói tổn thất kinh doanh là thành phần tổn thất mang nhiều tính chủ quan, nguyên nhân chủ yếu là do chính con người gây ra.
Nói một cách tổng quát, tổn thất kinh doanh điện là những tổn thất phụ thuộc vào trình độ người quản lý, sử dụng điện của nhân viên kinh doanh và khách khàng.2 Phương pháp xác định tổn thất kỹ thuật 1.1 Xác định tổn thất trong máy biến áp a. Tổn thất công suất trong MBA: Ngoài các thông số định mức của máy biến áp: công suất định mức Sđm, điện áp định mức của 2 cuộn dây U1đm và U2đm còn có các thông số: Tổn thất không tải DPo, tổn thất công suất tác dụng khi ngắn mạch DPN , dòng điện không tải phần trăm so với dòng điện định mức Io, điện áp ngắn mạch phần trăm so với điện áp UN. Máy biến áp hai cuộn dây được thay thế bằng sơ đồ hình với các tham số Rb, Xb, Gb, Bb (hình 1. Theo cấu trúc sơ đồ hình 1.1 ta có: Zb = Rb + jXb và Yb = Gb + jBb Rb jXb Gb -jBb Hình 1.1: Sơ đồ thay thế MBA hai cuộn dây Trong đó: Rb - Tổng trở cuộn dây sơ cấp và thứ cấp đã quy đổi về phía cao áp; ∆ × đ = × 10 ( , , , ) (1.3) đ Xb : Điện kháng của máy biến áp hai cuộn dây: 6 %× đ = × 10 ( , , ) (1.4) đ Gb: Điện dẫn tác dụng của MBA hai cuộn dây ∆ = × 10 , , (1.5) đ Bb: Điện dẫn phản kháng của MBA hai cuộn dây = đ , , (1.6) đ Khi điện áp định mức của lưới ≤ 220kV thành phần điện dẫn và điện kháng không xét đến do có giá trị không đáng kể.
Do đó có thể dùng sơ đồ thay thế MBA hai cuộn dây như hình 1. Tổn thất trong MBA được chia ra tổn thất không phụ thuộc tải ∆ ̇ (tổn thất trong lõi thép) và tổn thất phụ thuộc tải ∆ ̇ (tổn thất của cuộn dây).7) Khi đó tổn thất không tải MBA hay tổn thất trong lõi thép là DS0. Tổn thất không tải không phụ thuộc vào công suất tải qua MBA, nó chỉ phụ thuộc vào cấu tạo của MBA. Rb jXb DSo = DPo + jQo Hình 1.2: Sơ đồ thay thế MBA hai cuộn dây khi điện áp ≤ 220kV Tổn thất không tải được xác định theo các số liệu kỹ thuật của MBA: DS0 = DP0 + j DQ0 (kVA) (1.8) Trong đó: DP0 - Tổn thất công suất tác dụng không tải (theo số liệu nhà sản xuất); DQ0 - Tổn thất công suất phản kháng không tải.
7 %× đ ∆ = 100 I0 là dòng điện không tải tính theo phần trăm. Thành phần tổn thất phụ thuộc vào công suất tải qua MBA hai cuộn dây hay còn gọi là tổn đồng được xác định như sau: ∆ ̇ = ∆ + ∆ (1.11) đ Trong đó: S là công suất tải của MBA đơn vị là VA, kVA, MVA; Sđm là công suất định mức của MBA [VAr, kVAr, MVAr] và DPN là tổn thất ngắn mạch. Vậy tổng tổn thất công suất trong máy biến áp là: ∆. Tổn thất điện năng trong MBA hai cuộn dây: Tương tự như tổn thất công suất trong MBA thì tổn thất điện năng trong MBA cũng gồm hai thành phần: Phần không phụ thuộc vào tải xác định theo thời gian làm việc của MBA và phần phụ thuộc vào tải, xác định theo đồ thị phụ tải.
Tổn thất điện năng 1 năm trong MBA tính theo công thức sau: ∆ =∆ × + ∆ × =∆ × +∆ × (1.14) đ Trong đó: Tb là thời gian vận hành trong năm của MBA 8760 h; Smax là phụ tải cực đại của MBA.2 Xác định tổn thất trên đường dây Trước hết cần lựa chọn sơ đồ thay thế của một lưới điện và tính toán các thông số của chúng. Sau đó lắp các sơ đồ thay thế của từng phần tử theo đúng trình tự mà các phần tử được nối vào nhau trong lưới và quy đổi các thông số 8 của sơ đồ thay thế về cùng cấp điện áp. Các thông số của đường dây: điện trở, điện kháng, điện dẫn và dung dẫn hầu như phân bố dọc theo đường dây. Trong tính toán đối với những đường dây có chiều dài ≤ 300km có thể dùng thông số tập trung.
Khi đó sơ đồ thay thế đường dây như hình 1. Trong đó: Tổng trở tập trung Z = R + jX và R, X lần lượt là điện trở và điện kháng của đường dây. Tổng dẫn = + 2 2 2 Tổng dẫn Y thể hiện sự có mặt của thành phần điện dẫn tác dụng G do tổn thất công suất tác dụng rò qua sứ và tổn thất vầng quang, đồng thời cũng thể hiện sự có mặt của thành phần phản kháng ( dung dẫn B) do điện dung giữa dây dẫn các pha và đất. R X U1 I1 In I2 Iy Iy Gn Bn Gn Bn 2 2 2 2 Hình 1.3: Sơ đồ thay thế đường dây hình Truyền tải điện năng trong các mạng phân phối được thực hiện bằng các đường dây trên không và đường dây cáp.
Mạng điện phân phối thường vận hành hở và có điện áp ≤ 35kV. Ở lưới điện phân phối khi phân tích và tính toán chế độ thường không tính: (1) Tổng dẫn Y của đường dây; (2) Thành phần ngang của điện áp giáng; (3) Tổn thất công suất khi xác định các dòng công suất. (4) Sự khác nhau của điện áp nút khi xác định tổn thất công suất và điện áp trong mạng. Khi đó, sơ đồ thay thế đối với lưới điện phận phối (điện áp ≤ 35kV) như hình 1.4 9 U1 Rn Xn U2 In Hình 1.4: Sơ đồ thay thế đường dây lưới điện phân phối Xét mạng phân phối có sơ đồ thay thế như hình 1.5: Sơ đồ thay thế hai đoạn đường dây và hai phụ tải Biết công suất các phụ tải ̇ , ̇ , tổng trở các đoạn đường dây ̇ = + , ̇ = + , điện áp đầu đường dây ̇.
Công suất chạy trên các đoạn đường dây được xác định như sau: 23 = 3, 12 = 2 + 3 (1.