Chương 1 còn đề cập đến các mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu cần đạt được, phương pháp để thực hiện và ý nghĩa mà bài nghiên cứu mang lại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGHỈ VIỆC VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHỈ VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 2. LÝ THUYẾT CHUNG VỀ NGHỈ VIỆC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 2. Khái niệm, ảnh hưởng của nghỉ việc đến tổ chức Dự định nghỉ việc Theo Mobley (1977) và Mowday, Steers, & Porter (1979) thì dự định nghỉ việc là bước cuối cùng trong quá trình ra quyết định trước khi một người thực sự rời khỏi nơi làm việc của họ.
Không giống như nghỉ việc, vì dự định thì không rõ ràng, chỉ hình thành, xem xét trong suy nghĩ và chưa có biểu hiện bằng hành động cụ thể cho thấy nhân viên chắc chắn từ bỏ công việc hiện tại; đây cũng là một nan đề khó khăn để nhà quản trị nhân sự nhận biết và đưa ra các biện pháp hạn chế kịp thời. Hay theo Mor Barak và các đồng sự (2001), dự định nghỉ việc được định nghĩa là “sự xem xét một cách nghiêm túc về việc rời khỏi công việc hiện tại của một người”. Là sự phản ánh khả năng rằng một người sẽ thay đổi công việc của anh hay chị ta trong thời gian tới. Võ Quốc Hưng & Cao Hào Thi (2010) cho rằng, dự định nghỉ việc của nhân viên là ý định sẽ rời khỏi môi trường làm việc hiện tại sang môi trường làm việc khác.
Dự định nghỉ việc xảy ra khi người lao động có cảm thấy chán nản công việc, bất mãn không hài lòng, họ không còn tập trung vào công việc, không còn hết lòng với tổ chức. Họ tự nguyện rời bỏ công việc đang làm và muốn kiếm một công việc khác để thay thế. Nghỉ việc Nghỉ việc là khi người lao động không tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động với tổ chức đang làm nữa. Nghỉ việc luôn là vấn đề quan trọng được nhiều nhà quản trị nhân sự quan tâm vì nó gây khó khăn cho hoạt động và vận hành bộ máy của doanh nghiệp do sự bất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ổn trong cơ cấu nhân sự.
Đồng thời, theo đó là việc tạo ra nhiều chi phí hơn cho doanh nghiệp để tuyển dụng, đào tạo nhân viên mới. Theo Curtis (2010), nghỉ việc được hiểu là quá trình nhân viên rời khỏi tổ chức và tổ chức phải tiến hành thay thế cho vị trí của nhân viên đã nghỉ việc đó. Tommy Thomas (2009) cho rằng nghỉ việc là tình trạng nhân viên của tổ chức quyết định kết thúc hợp đồng lao động với tổ chức đó. Theo đó, Thomas cho rằng tỷ lệ nghỉ việc là công cụ để đo lường sức khỏe nhân sự trong các tổ chức.
Việc nghỉ việc sẽ gây ra các vấn đề chi phí cũng như khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự mới và giữ chân được đội ngũ lao động có tài năng (Villanue & Djurkovic, 2009). Khi phân tích nghỉ việc, cần phân biệt rõ giữa dự định nghỉ việc và nghỉ việc, nếu không qui ước rõ điều này thì khi đưa vào nghiên cứu sẽ không chính xác. Vì dự định nghỉ việc là việc có thể nhận thấy qua các biểu hiện tiêu cực của nhân viên gây ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc tuy nhiên tổ chức có thể ngăn chặn, thay đổi dự định này trước khi nó xảy ra; còn quyết định nghỉ việc là việc nhân viên đã đưa ra sự lựa chọn của họ chắc chắn sẽ làm và tổ chức hầu như không thể ngăn chặn nó xảy ra. Do đó, bài luận văn chỉ nghiên cứu các nhân viên có dự định nghỉ việc nhằm đưa ra các giải pháp kịp thời để hạn chế tình trạng nghỉ việc của nhân viên tại SCB – chi nhánh Tân Bình.
Ảnh hưởng của nghỉ việc đến tổ chức Việc duy trì nguồn nhân lực cần và đủ luôn là nhiệm vụ quan trọng cấp thiết của tổ chức, vì bởi lẽ tác động của việc nghỉ việc tăng cao là không hề đơn giản: ₋ Sự tăng cao của chi phí quản lý nhân lực do công ty phải tăng chi phí tuyển dụng cũng như chi phí đào tạo, mà đây là hai nguồn chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí nhân sự. Chan et al. (2001) cho rằng tỷ lệ nghỉ việc cao sẽ gây bất lợi cho tổ chức vì sẽ làm gia tăng các loại chi phí trực tiếp (tuyển dụng, đào tạo, tìm kiếm người mới thay thế,…) và chi phí gián tiếp (chi phí cho học hỏi, tinh thần làm việc sa sút, áp lực cho các nhân viên còn lại,…) cho quản lý nhân sự. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ₋ Nhân viên mới được tuyển dụng để thay thế nhân viên nghỉ việc thường phải trải qua giai đoạn được huấn luyện đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ và quá trình làm quen, xây dựng mối quan hệ trong tổ chức.
Giảm năng suất làm việc của tổ chức vì nhân viên mới không thể hoàn toàn hòa nhập với tổ chức cũng như công việc trong một khoảng thời gian nhất định ban đầu. ₋ Tỷ lệ nghỉ việc quá cao có thể ảnh hưởng đến thương hiệu của công ty. Khách hàng đánh giá sự hài lòng với một tổ chức chủ yếu dựa vào mối quan hệ với nhân viên đang làm việc với họ. Một vài khách hàng nghĩ rằng họ đang mua sản phẩm kém hơn hay dịch vụ giảm chất lượng do sự thay đổi về nhân sự; nhất là trong lĩnh vực ngân hàng vì khách hàng giao dịch thường quen thuộc với một nhân viên, khi đổi nhân viên khác phục vụ sẽ dẫn đến việc không hiểu tâm lý của họ bằng nhân viên cũ.
₋ Tỷ lệ nghỉ việc tác động đến kết quả kinh doanh. Khi nhân viên ra đi họ mang theo cả những kinh nghiệm, kiến thức và khách hàng hiện tại của công ty đến với đối thủ cạnh tranh (Leigh Goessi, 2011). Nếu tổ chức bị mất khách hàng do nhân viên nghỉ việc quá nhiều và mang theo khách hàng của tổ chức, thì điều này làm tình hình kinh doanh giảm sút. Theo một nghiên cứu đã cho thấy rằng tỷ lệ nghỉ việc cao ảnh hưởng đến 400% lợi nhuận của tổ chức.
Phân loại nghỉ việc Theo Heneman & Judge (2006), có thể phân nghỉ việc thành 2 loại: nghỉ việc bắt buộc (voluntary turnover) và nghỉ việc tự nguyện (involuntary turnover). Nghỉ việc bắt buộc Là việc nghỉ việc không phải do bản thân người lao động quyết định mà phụ thuộc vào tổ chức như bị sa thải hoặc cắt giảm biên chế. Nghỉ việc bắt buộc chủ yếu là do tổ chức thanh lọc lại đội ngũ nhân viên, loại bỏ các nhân viên không đủ năng lực, không đáp ứng đủ yêu cầu cho công việc hay không phù hợp, không còn trung thành với tổ chức. Nghỉ việc bắt buộc có thể mang lại hiệu quả cho tổ chức vì tổ chức có thể tìm kiếm được những nhân viên mới có năng lực hơn, phù hợp và gắn bó với tổ chức hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Nghỉ việc tự nguyện Là việc nghỉ việc dựa trên mong muốn của nhân viên, họ chủ động rời bỏ tổ chức. Nghỉ việc tự nguyện lại được phân loại thành 2 loại (Wells, 2010) như sau: ₋ Nghỉ việc có thể tránh khỏi: chủ yếu xuất phát từ sự không hài lòng, không còn thỏa mãn với công việc đang làm hoặc thiếu sự liên kết, gắn bó với tổ chức của nhân viên về: thu nhập, môi trường làm việc, cơ hội thăng tiến,… ₋ Nghỉ việc không thể tránh khỏi: là do một nguyên nhân khách quan nào đó của nhân viên như phải thay đổi chỗ ở khi kết hôn hay do điều kiện gia đình khó khăn; ngoài ra, do gặp phải các vấn đề về sức khỏe, qua đời, hoặc tiếp tục theo đuổi việc học hành,… Abbasi & Hollman (2000) cho rằng những người thuộc đối tượng nghỉ việc tự nguyện thường là những người tài năng và có nhiều kinh nghiệm, có khả năng cống hiến cho tổ chức. Việc không giữ chân được họ sẽ là tổn thất lớn cho tổ chức. Khi phân tích việc nghỉ việc của nhân viên thì cần tách biệt rõ giữa nghỉ việc tự nguyện có thể tránh khỏi với nghỉ việc tự nguyện không thể tránh khỏi.
Vì nghỉ việc tự nguyện có thể tránh khỏi là việc có thể nhận thấy và ngăn chặn trước khi nó xảy ra, nếu không qui ước rõ điều này thì khi đưa vào phân tích mô hình sẽ không chính xác. Do đó, bài luận văn chỉ nghiên cứu các nhân viên nghỉ việc tự nguyện có thể tránh khỏi nhằm tìm ra giải pháp hạn chế tình trạng nghỉ việc cao tại SCB – chi nhánh Tân Bình. Các thuyết liên quan đến nghỉ việc của người lao động (1) Thuyết thứ bậc nhu cầu - Abraham Maslow (1943) Có thể dễ nhận ra mối liên hệ giữa sự thỏa mãn và quyết định nghỉ việc, khi người lao động đạt được sự thỏa mãn trong công việc thì họ sẽ không có quyết định nghỉ việc. Abraham Maslow cho rằng, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu này được sắp xếp theo thứ tự từ thấp cho đến cao theo tầm quan trọng của chúng và được chia thành năm bậc.
Trong đó, Maslow lại chia năm bậc nhu cầu thành 2 nhóm cấp bậc là nhóm nhu cầu cấp thấp gồm có 3 bậc: nhu cầu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 cơ bản, nhu cầu an toàn và nhu cầu xã hội; nhóm nhu cầu cấp cao gồm có 2 bậc: nhu cầu tự trọng và nhu cầu tự thể hiện. Nhu cầu cơ bản (Physiological Needs): Là các nhu cầu cơ bản của mỗi người để tồn tại như: ăn, uống, nghỉ ngơi, sở thích, sinh hoạt và các nhu cầu khác của cơ thể con người. Nhu cầu an toàn (Safety Needs): Là các nhu cầu về an ninh, được bảo vệ và ổn định, không bị nguy hiểm về tính mạng, các chuẩn mực, luật lệ… Nhu cầu xã hội (Social Needs): Nội dung của nhu cầu này phong phú, đa dạng, tế nhị và phức tạp hơn hai nhu cầu trước.