mở đầu một cơ hội để chia sẻ trách nhiệm và các quyết định giữa GAC với QPWS thông qua đơn vị kiểm lâm nói trên. Nó tạo cơ hội để QPWS làm việc chặt chẽ với người thổ dân, hiểu biết rõ hơn về tập quán và truyền thống văn hóa của họ và nhận được sự ủng hộ giúp đỡ hàng ngày của thổ dân đối với hai khu vực bảo tồn nói trên. Mục đích chia sẻ của họ là cùng bảo vệ và sử dụng một cách bền vững các tài nguyên thiên nhiên thuộc hai khu vực bảo tồn này [39]. Ở Thái Lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%, nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26%.000 km2 rừng bị tàn phá.
Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng gia Thái Lan thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diện tích rừng còn lại. Điều này dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương. Một thử nghiệm của Dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ [34].
Các nguyên tắc được lập ra trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia năm 1992 - 1996 là: "Khuyến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 khích người dân cộng tác với chính phủ, trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên thông qua việc đề cao vai trò của các tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ, từ trung ương đến địa phương. Thái Lan là một nước Châu Á nằm trong khu vực Đông Nam Á, những thành tựu đạt được trong công tác xây dựng các chương trình đồng quản lý các khu rừng bảo vệ của họ sẽ là bài học kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam chúng ta. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Tài nguyên rừng Việt Nam trước đây do Nhà nước trực tiếp quản lý, mọi hoạt động từ xây dựng kế hoạch khai thác sử dụng tài nguyên rừng đều do Nhà nước quyết định. Trong những năm gần đây xu hướng chuyển từ quản lý lâm nghiệp truyền thống sang công tác quản lý lâm nghiệp xã hội đã phát huy được những hiệu quả nhất định.
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công; Nhà nước ta tiến hành thành lập hàng loạt các hợp tác xã. Do nguồn tài nguyên rừng còn nhiều, cộng với ý thức bảo tồn đa dạng sinh học còn thấp, cho nên công tác quản lý tài nguyên rừng của các hợp tác xã chưa thật tốt, họ coi tài nguyên rừng là của chung, các hoạt động khai thác và sử dụng đều mang tính tập thể. Đây cũng có thể coi là một sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng ( Đồng quản lý), tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở mức quan hệ thấp, chưa thật sự hiệu quả. Sự hợp tác quản lý cộng đồng địa phương đối với tài nguyên rừng được phát triển qua từng giai đoạn sau: - Giai đoạn 1954: Các cộng đồng dân tộc tự quản lý và kiểm soát rừng theo quy ước cộng đồng.
- Giai đoạn 1955 -1986: Ở miền Bắc sau đó cả nước thực hiện theo mô hình quản lý tập chung theo chế độ tập thể làm chủ. Hình thức quản lý rừng cộng đồng hay đồng quản lý ở giai đoạn này bị mai một và suy giảm. - Giai đoạn 1986: Thực hiện chính sách đổi mới, Nhà nước thực hiện quyền sử dụng lâu dài cho các cá nhân, hộ gia đình. Nhà nước thực hiện chính sách phi tập chung và giao quyền quản lý rừng và đất rừng cho địa phương.
Năm 1997, tại Vườn quốc gia Cát Tiên khái niệm đồng quản lý lần đầu tiên được đưa vào giới thiệu tại một khóa tập huấn về bảo tồn thiên nhiên, dưới sự tài trợ của quỹ Quốc tế về bảo tồn thiên nhiên. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân nên khái niệm đồng quản lý tài nguyên vẫn chưa thể tiến hành triển khai thực hiện thực tế, nên khái niệm đồng quản lý vẫn dừng lại ở trên giấy với lý thuyết cơ bản. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Năm 2002 tại Khu BTTN Pù Luông; Ulrich Apel, Oliver C. Maxwell và các tác giả đã có công trình nghiên cứu về sự phối hợp quản lý và bảo tồn, đồng thời đã đánh giá về tình hình sử dụng đất đai, nhà ở và cách quản lý tài nguyên thiên nhiên ở một số thôn bản vùng đệm khu BTTN Pù Luông.
Bước đầu cũng đã đưa ra được một số phân tích về sự phụ thuộc của người dân đối với tài nguyên rừng và đánh giá một số thể chế, chính sách hiện nay đối với công tác quản lý rừng đặc dụng. Tuy nhiên chưa đánh giá được đầy đủ tiềm năng về đồng quản lý cũng như chưa đưa ra được nguyên tắc và giải pháp thực hiện. Ngoài ra cũng có một số hội thảo và dự án nhỏ khác đang được triển khai thực hiện nhằm xây dựng mô hình đồng quản lý tài nguyên như: Hội thảo về ý tưởng thành lập khu bảo tồn thiên nhiên Phu Xai Lai Leng do cộng đồng quản lý, tổ chức ngày 4/8/ 2003 tại Nghệ An [19]; Dự án về đồng quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế do tổ chức Catherine T. Macarthur Foundation tài trợ.
Tuy nhiên các dự án và hội thảo trên đều chưa đưa ra được tiến trình, thống nhất nguyên tắc và các giải pháp thích hợp để xây dựng kế hoạch đồng quản lý tài nguyên. Một nghiên cứu mới trong quá trình xây dựng mô hình đồng quản lý rừng phòng hộ tại Hòa Bình, dưới sự tài trợ của Dự án phục hồi rừng đầu nguồn tự nhiên bị suy thoái tại miền Bắc Việt Nam ( RENFODA – JICA) cho thấy: Dự án đã nghiên cứu và đề xuất được một số nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý rừng phòng hộ tại xóm Lòn xã Bình Thanh và xóm Dưng xã Hiền Lương, trong khuôn khổ dự án bước đầu đã lựa chọn một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý để áp dụng trong các hoạt động của Dự án trên địa bàn 2 xã này. Đây là một sự thử nghiệm áp dụng phương thức đồng quản lý rừng lần đầu tiên tại Việt Nam cho rừng phòng hộ. Trong những năm gần đây, trong các Luận văn Thạc Sỹ Lâm nghiệp – Trường Đại Học Lâm Nghiệp đã nghiên cứu và đề xuất được một số nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý khu các BTTN như: Vũ Đức Thuận, 2006 – Nghiên cứu tại khu BTTN Copia – Sơn La; Phạm Văn Hạ, 2007 - Nghiên cứu tại VQG CHƯ YANG SIN – ĐĂK LĂC; Đặc biệt đề tài Nghiên cứu và đề xuất một số nguyên tắc và giải pháp đồng quản lý rừng Khu BTTN Sông Thanh – Quảng Nam của tác giả Nguyễn Quốc Dựng, 2004 đã đưa ra được 5 nguyên tắc cơ bản là: Hợp pháp, tự nguyện, công bằng, kinh tế và bền vững với 13 tiêu chí kèm theo.
Ngoài ra đề tài cũng đưa ra 5 bước cơ bản trong tiến trình thực hiện đồng quản lý và 8 nhóm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 giải pháp thực hiện đồng quản lý tài nguyên rừng trong khu BTTN. Đây là một đề tài mà các nguyên tắc và giải pháp đã được thực hiện thử nghiệm trong khuôn khổ Dự án quản lý vùng chiến lược kết hợp bảo tồn thiên nhiên ( MOSAIC) Sông Thanh – Quảng Bình. Như vậy, ở Việt Nam, đồng quản lý hay hợp tác quản lý là mới, còn trong giai đoạn thử nghiệm và gặp nhiều khó khăn trong quá trình ứng dụng và thực tiễn. Việc đưa ra vấn đề đồng quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng cần phải thực hiện trên cơ sở lý luận và các bước tiến hành về quản lý phù hợp với điều kiện và tình hình thực tiễn ở nước ta và đặc biệt là sự hợp tác nhiệt tình của địa phương.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Giang nói chung và góp phần nâng cao vai trò trách nhiệm của các cấp, các ngành và cộng đồng địa phương trong quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên rừng tại khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Côn Lĩnh tỉnh Hà Giang. Mục tiêu cụ thể - Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Tây Côn Lĩnh.
- Đánh giá tiềm năng đồng quản lý rừng tại Khu BTTN Tây Côn Lĩnh. - Đề xuất được một số nguyên tắc đồng quản lý rừng khu BTTN. - Đề xuất được một số giải pháp cơ bản để thực hiện đồng quản lý tài nguyên Khu BTTN. Đối tượng và phạm vi, giới hạn nghiên cứu 2.
Đối tượng nghiên cứu - Cơ chế chính sách của các cấp có liên quan đến công tác quản lý hệ thống rừng đặc dụng. - Kiến thức bản địa và thể chế của cộng đồng dân cư trong quản lý tài nguyên thiên nhiên. - Tài nguyên thiên nhiên Khu BTTN Tây Côn Lĩnh. Phạm vi, giới hạn nghiên cứu Do điều kiện về thời gian, nhân lực và kinh phí, đặc biệt là nội dung và phương pháp của đề tài đòi hỏi thời gian dài và nhân lực nhiều, nên phạm vi nghiên cứu được giới hạn cụ thể ở một xã mang tính đại diện nhất là xã Cao Bồ huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, làm cơ sở đề xuất nguyên tắc, giải pháp thực hiện đồng quản lý Khu BTTN Tây Côn Lĩnh.
Nội dung nghiên cứu. - Phân tích tổng hợp về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế, xã hội Khu BTTN Tây Côn Lĩnh và xã Cao Bồ. - Xây dựng cơ sở khoa học về đồng quản lý rừng Khu BTTN Tây Côn Lĩnh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý và sử dụng tài nguyên rừng, thực trạng công tác bảo tồn đa dạng sinh học, những nguy cơ, thách thức tại Khu BTTN Tây Côn Lĩnh.
- Phân tích, đánh giá mức độ tham gia của các bên liên quan đến đồng quản lý tài nguyên rừng Khu BTTN Tây Côn Lĩnh. - Nghiên cứu, phân tích thể chế, kiến thức bản địa của cộng đồng người dân địa phương trong công tác bảo vệ và phát triển rừng tại Khu BTTN Tây Côn Lĩnh. - Nghiên cứu, đề xuất nguyên tắc và giải pháp thực hiện đồng quản lý rừng Khu BTTN Tây Côn Lĩnh. Phương pháp nghiên cứu 2.