Chương 1 Bộ Luật Thương mại Việt Nam 2005) Xuất phát từ góc độ thương mại ở các doanh nghiệp, xúc tiến thương mại là các hoạt động của các doanh nghiệp nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá và cung ứng dịch vụ thương mại. Xúc tiến thương mại bao gồm các hoạt động chính như: quảng cáo, khuyến mại, hội chợ triển lãm, bán hàng trực tiếp, quan hệ công chúng và các hoạt đông khuyếch trương khác Bản chất của hoạt động XTTM là một quá trình giao tiếp, cung cấp thông tin và thuyết phục khách hàng trên thị trường mục tiêu của doanh nghiệp, được thực hiện thông qua hai đại diện: Người chủ động và người tiếp nhận XTTM. Việc cung cấp thông tin thuyết phục và giao tiếp có mối liên hệ qua lại hết sức chặt chẽ. Và đối tượng chỉ bị thuyết phục khi đã được cung cấp những thông tin thích hợp.
Việc cung cấp thông tin và thuyết phục chỉ được tiến hành một cách hiệu quả thông qua những hình thức giao tiếp nhất định. Vì vậy để đạt được hiệu quả truyền thông lớn nhất Ngân hàng cần phối hợp kỹ lưỡng toàn bộ hệ thống Marketing-mix của mình để phát huy tác dụng XTTM tối đa. Qua tìm hiểu các định nghĩa về XTTM ta có thể rút ra kết luận về định nghĩa XTTM ở Doanh nghiệp: Đó là một tiến trình phát triển và duy trì phối thức XTTM nhằm thu hút khách hàng trên cơ sở sử dụng hợp lý các nguồn lực của Doanh 15 nghiệp nhằm thúc đẩy việc mua, sử dụng các sản phẩm dịch vụ, chủ yếu nhằm phát triển thị trường. Vai trò và mục đích của xúc tiến thương mại Hiện nay, xúc tiến là hoạt động quan trọng không thể thiếu được trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp thương mại nói riêng.
Đối với mỗi quốc gia, xúc tiến một mặt tạo cơ hội cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, tổng mức lưu chuyển hàng hoá gia tăng. Mặt khác, thông qua xúc tiến, mỗi quốc gia có điều kiện để mở rộng giao lưu kinh tế với các quốc gia khác. Hoạt động xúc tiến trong kinh doanh thương mại sẽ giúp cho các doanh nghiệp có cơ hội phát triển các mối quan hệ thương mại với các bạn hàng trong nước cũng như các bạn hàng ở nước ngoài. Thông qua hoạt đông xúc tiến các doanh nghiệp có điều kiện để hiểu biết lẫn nhau, đặt quan hệ buôn bán với nhau.
Thông qua hoạt động xúc tiến các doanh nghiệp có thêm thông tin về thị trường, có điều kiện để phát triển kinh doanh và hội nhập vào kinh tế khu vực, thông qua hoạt động xúc tiến các doanh nghiệp tiếp cận được với thị trường tiềm năng của doanh nghiệp, cung cấp cho khách hàng những thông tin cần thiết, những dịch vụ ưu đãi để tiếp tục chinh phục khách hàng của doanh nghiệp và lôi kéo khách hàng của đối thủ cạnh tranh. Các hoạt động xúc tiến sẽ tạo ra hình ảnh đẹp về doanh nghiệp trước con mắt của khách hàng, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ đó mà không ngừng tăng lên. Hoạt động xúc tiến trong kinh doanh thương mại là cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp. Thông qua hoạt động xúc tiến, các doanh nghiệp sẽ có điều kiện để nhìn nhận về ưu nhược điểm của hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp mình.
Từ đó doanh nghiệp có cơ sở để quyết định kịp thời, phù hợp. Xúc tiến làm cho bán hàng trở nên dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng vào kênh phân phối một cách hợp lý, kích thích hiệu quả của lực lượng bán hàng. Xúc tiến trong hoạt động kinh doanh thương mại là công cụ hữu hiệu giúp cho cung và cầu gặp nhau. Người tiêu dùng sử dụng sản phẩm của các doanh nghiệp nhiều hơn, doanh nghiệp ngày càng được khách hàng ưa chuộng hơn.
Qua đó, nhà 16 kinh doanh đã góp phần thay đổi cơ cấu tiêu dùng, hướng dẫn thị hiếu của khách hàng. Thông qua xúc tiến, tài sản vô hình của doanh nghiệp thương mại ngày càng được tích luỹ thêm. Như vậy các doanh nghiệp muốn đạt được mục tiêu kinh doanh đặt ra thì một vấn đề không thể thiếu được là phải tổ chức tốt hoạt động xúc tiến trong kinh doanh thương mại. Khi tiến hành xúc tiến các doanh nghiệp cần phải thực hiện một cách khoa học trong từng khâu, từng bước thực hiện.
- Xúc tiến thương mại thúc đẩy, tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp trong quá trình tham gia, tồn tại và phát triển trên thị trường một cách có hiệu quả nhất. - Xúc tiến thương mại là một công cụ quan trọng trong Marketing chính nhờ sự giao tiếp hiệu quả giữa các thành viên trong Doanh nghiệp với khách hàng mà sự vận động của nhu cầu và hàng hoá xích lại gần nhau hơn mặc dù nhu cầu khách hàng là phong phú và biến đổi không ngừng. - Xúc tiến thương mại tác động và làm thay đổi cơ cấu tiêu dùng. - Xúc tiến thương mại giúp cho việc bán hàng dễ dàng và năng động hơn.vn) Một sản phẩm mới để đến được tay người tiêu dùng cần những hoạt động xúc tiến thương mại bổ trợ.
Mặt khác, ta lại thấy rằng có 3 kiểu khách hàng mới đến với sản phẩm của bạn: người đang dùng sản phẩm cạnh tranh, người đang dùng sản phẩm thay thế và những người thay đổi sản phẩm của các nhãn hiệu liên tục. Và chính xúc tiến bán hàng sẽ nhắm vào những đối tượng hay thay đổi sản phẩm của các nhãn hiệu khác nhau là chủ yếu. Xúc tiến thương mại có thể thay đổi được thị phần tương đối bền vững khi trên thị trường có rất nhiều những nhãn hiệu khác nhau: - XTTM cho phép các nhà sản xuất điều chỉnh những biến động ngắn hạn của cung và cầu - XTTM cho phép nhà sản xuất tính giá quy định cao hơn để thử nghiệm xem có thể cao được hơn đến mức nào 17 - XTTM kích thích người tiêu dùng dùng thử sản phẩm mới thay vì việc trung thành với sản phẩm hiện tại - XTTM làm cho khách hàng biết đến giá cả nhiều hơn - XTTM giúp nhà sản xuất điều chỉnh được các chương trình cho phù hợp với các nhóm người tiêu dùng khác nhau. Mô hình quá trình xúc tiến thương mại tổng quát Người gửi Thông điệp Người Mã hóa Giải mã nhận Kênh truyền thông Nhiễu Phản Đáp ứng hồi Sơ đồ 1.
1: Mô hình quá trình XTTM tổng quát (Nguồn: voer.vn) Trong đó - Người gửi: Bên gửi thông điệp cho bên còn lại - Mã hóa: Tiến trình truyền ý tưởng thành những hình thức có tính biểu tượng. - Thông điệp: Tập hợp tất cả các biểu tượng chứa đựng những nội dung giao tiếp mà bên gửi truyền - Kênh truyền thông: Các kênh truyền thông qua đó thông điệp đi từ người gửi đến người nhận. - Giải mã: Tiến trình theo đó bên nhận quy ý nghĩa cho các biểu tượng do bên kia gửi tới. 18 - Người nhận: Bên nhận thông điệp do bên kia gửi tới - Đáp ứng: Tập hợp những phản ứng mà người nhận có được sau khi tiếp nhận thông điệp.
- Phản hồi: Một phần sự đáp ứng mà người nhận có được sau khi tiếp nhận thng điệp - Nhiễu: Sự sai lệch ngoài mong muốn do các tác nhân tác động tới quá trình truyền thông, dẫn tới kết quả là người nhận được thông điệp không giống với thông điệp được gửi đi Ý nghĩa: Mô hình trên nhấn mạnh những yếu tố chủ yếu trong quá trình XTTM hữu hiệu. Các Doanh nghiệp phải biết mình đang muốn nhằm đến những khách hàng trọng điểm nào? Và muốn có những đáp ứng nào? Doanh nghiệp phải khéo léo trong việc mã hóa các thông điệp, trong đó có tính đến việc khách hàng trọng điểm sẽ có khuynh hướng giải mã các thông điệp như thế nào? Doanh nghiệp phải truyền các thông điệp qua những kênh truyền thông nào hữu hiệu để đạt đến tập khách hàng trọng điểm. Doanh nghiệp lại phải triển khai những kênh phản hồi sao cho có thể biết được phản ứng của khách hàng đối với thông điệp của mình. Mô hình quá trình xúc tiến thương mại cụ thể trong 1 Doanh nghiệp: Xác định mục tiêu xúc tiến Lựa chọn phương tiện xúc tiến Xây dựng chương trình xúc tiến Thử nghiệm trước chương trình xúc tiến bán Thực hiện và kiểm tra chương trình Đánh giá kết quả xúc tiến 19 Sơ đồ 1.
2: Qúa trình xúc tiến thương mại cụ thể tại các Doanh nghiệp (Nguồn: voer. Nội dung của hoạt động xúc tiến thương mại 1. Quảng cáo Theo hiệp hội Marketing Mỹ (AMA): “Quảng cáo là bất cứ loại hình nào của sự hiện diện không trực tiếp của hàng hoá, dịch vụ hay tư tưởng hành động mà người ta phải trả tiền để nhận biết người quảng cáo” (Nguồn: voer.vn) Mục tiêu của quảng cáo xuất phát từ những quyết định về thị trường mục tiêu, về việc định vị sản phẩm, hàng hóa của công ty. Mục tiêu của quảng cáo còn phụ thuộc vào yêu cầu của hỗn hợp truyền thông của công ty.
Thông thường thì mục tiêu quảng cáo sẽ đi theo những hướng như: - Tăng số lượng hàng tiêu thụ trên thị trường truyền thống - Mở rộng thị trường mới - Giới thiệu sản phẩm mới - Xây dựng và củng cố uy tín của nhãn hiệu hàng hóa và uy tín của công ty Nội dung quảng cáo thường được đánh giá dựa trên tính hấp dẫn, tính độc đáo và tính đáng tin. Thông điệp quảng cáo phải nói lên những điều đáng mong ước hay thú vị về sản phẩm. Nó cũng cần nói lên những khía cạnh độc đáo, khác biệt so với những sản phẩm khác. Phải thể hiện được nội dung đó trong thông điệp để bảo đảm cho sự thành công của hoạt động quảng cáo.
Phải lựa chọn ngôn ngữ, xác định cấu trúc thông điệp, lựa chọn phương tiện truyền tin thích hợp, bảo đảm thỏa mãn các yêu cầu của quảng cáo. Làm thế nào để phân biệt giữa quảng cáo với các hình thức truyền thông khác? Người ta dựa trên 6 yếu tố để xác định quảng cáo. - Quảng cáo là một hình thức truyền thông được trả tiền để thực hiện. - Người chi trả cho nội dung quảng cáo là một tác nhân được xác định.
20 - Nội dung quảng cáo nhằm thuyết phục hoặc tạo ảnh hưởng tác động vào người mua hàng. - Thông điệp quảng cáo có thể được chuyển đến khách hàng bằng nhiều phương tiện truyền thông khác nhau. - Quảng cáo tiếp cận đến một đại bộ phận khách hàng tiềm năng.