Tổng quan nghiên cứu

Nguồn tài nguyên nước mặt tại tỉnh Bình Thuận thuộc nhóm thấp nhất cả nước với lượng mưa trung bình hàng năm chỉ đạt khoảng 1.180 mm (dao động từ 850 mm ở khu vực phía Bắc đến 1.450 mm ở khu vực phía Nam), phân bố rất bất đối xứng giữa các mùa. Nhu cầu sử dụng nước trong mùa khô chiếm từ 66,12% đến 68,8% tổng nhu cầu cả năm, tạo áp lực khổng lồ lên hệ thống các công trình thủy lợi trong điều kiện nguồn nước ngầm bị hạn chế và nhiễm mặn cục bộ (lượng khai thác chỉ đạt 118.679 m3/ngày đêm, tương đương khoảng 2% tổng lượng nước khai thác toàn tỉnh). Hồ chứa nước Sông Quao được xây dựng từ năm 1988 đến năm 1997 tại xã Hàm Trí, huyện Hàm Thuận Bắc, sở hữu diện tích lưu vực 296 km2 và dung tích toàn bộ đạt 80 triệu m3 (dung tích hữu ích 67,30 triệu m3). Đây là công trình đa mục tiêu giữ vai trò sống còn đối với an ninh nguồn nước khu vực trung tâm tỉnh, đảm nhiệm cung cấp nước tưới cho 8.120 ha đất canh tác lúa, thanh long, đồng thời là nguồn cấp nước thô chủ đạo cho Nhà máy nước Cà Giang (công suất 24.360 m3/ngày đêm) và hỗ trợ Nhà máy nước Phan Thiết (công suất 25.000 m3/ngày đêm), phục vụ tổng công suất cấp nước đô thị đạt 53.360 m3/ngày đêm cho hơn 173.252 người dân.

Tuy nhiên, áp lực từ tốc độ gia tăng dân số, sự bùng nổ của diện tích chuyên canh cây thanh long và quá trình xả thải sinh hoạt dọc tuyến kênh chính dài 24,68 km đang làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng nguồn nước thô. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện mức độ an toàn chất lượng nước theo chỉ số WQI và quy chuẩn QCVN 08-MT:2015/BTNMT, khảo sát tình trạng hư hỏng xuống cấp của 102 hạng mục công trình trên kênh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật, quản trị tích hợp khả thi nhằm phát triển bền vững hệ thống cấp nước sông Quao giai đoạn 2018-2025 và tầm nhìn 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Phát triển bền vững và Khung Quản lý tổng hợp tài nguyên nước (IWRM). Theo tuyên bố của Hội đồng Nước Thế giới (WWC), bản chất của các thách thức hiện nay là "khủng hoảng về quản trị ngành nước", đòi hỏi sự cân bằng chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ hệ sinh thái thủy vực. Khung lý thuyết IWRM nhìn nhận tài nguyên nước trong một thể thống nhất hữu cơ từ đầu nguồn đến cuối nguồn, nhấn mạnh nguyên tắc "phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại không tổn hại tương lai". Mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên bề mặt lưu vực như canh tác nông nghiệp, chăn nuôi hay sinh hoạt đều có mối liên hệ tác động dây chuyền tới chế độ dòng chảy và chất lượng nước hạ lưu.

Nghiên cứu tập trung vào 4 khái niệm khoa học then chốt:

  1. An toàn nguồn nước (Water Security): Trạng thái bảo đảm đầy đủ về số lượng và đạt chuẩn về chất lượng phục vụ sinh kế và sản xuất.
  2. Sức tải môi trường nước (Water Carrying Capacity): Khả năng tự làm sạch và dung nạp tải lượng ô nhiễm của hồ chứa và kênh dẫn.
  3. Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI): Phương pháp toán học tích hợp nhiều thông số lý hóa - vi sinh thành một giá trị đơn lẻ để đánh giá mức độ sạch của nguồn nước.
  4. Kế hoạch cấp nước an toàn (Water Safety Plan): Phương thức quản lý rủi ro toàn diện từ lưu vực thu nước, công trình chuyển tải đến nhà máy xử lý.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp từ chuỗi quan trắc 2013-2016 của Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Bình Thuận, Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi Bình Thuận và dữ liệu điều tra thực địa được thực hiện từ ngày 19/5/2017 đến ngày 26/5/2017.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 14 vị trí lấy mẫu chiến lược được bố trí theo không gian:

  • 04 điểm lấy mẫu tại hồ: H1 và H2 tại lòng hồ Sông Quao (khu vực trước tràn xả và cống lấy nước), H3 tại hồ Cẩm Hang (dung tích 1,193 triệu m3) và H4 tại hồ Cà Giang (ngay cửa lấy nước vào Nhà máy nước Cà Giang).
  • 10 điểm lấy mẫu dọc tuyến kênh: K1 đến K10 trải dài từ cống đầu mối kênh chính, qua các cầu giao thông (cầu Trắng, cầu Km21, cầu Trung Liêm, cầu Km7), dọc tuyến kênh nhánh N33 đến kênh Đông.

Phương pháp chọn mẫu theo tuyến dòng chảy kết hợp điểm giao cắt các khu vực phát sinh nguồn thải dân sinh và nông nghiệp được lựa chọn vì tính chất đại diện cao, giúp kiểm chứng chính xác sự biến thiên ô nhiễm dọc theo chiều dài 24,68 km của kênh chính. Việc phân tích chất lượng nước được thực hiện qua hai công cụ:

  • So sánh đối chiếu với QCVN 08-MT:2015/BTNMT (cột A2 cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau xử lý, cột B1 cho mục đích tưới tiêu nông nghiệp).
  • Tính toán chỉ số WQI theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01/7/2011 của Tổng cục Môi trường với 8 thông số: pH, DO, TSS, COD, BOD5, N-NH4+, P-PO43- và Tổng Coliform. Lý do lựa chọn WQI là khả năng trực quan hóa mức độ ô nhiễm phức tạp thành các phân vùng màu sắc cụ thể (xanh dương, xanh lá cây, vàng, da cam, đỏ), hỗ trợ đắc lực cho công tác ra quyết định quản lý.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích dữ liệu thực nghiệm đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hệ thống cấp nước sông Quao:

Thứ nhất, chất lượng nước trong lòng hồ Sông Quao (vị trí H1, H2) duy trì ở mức tương đối tốt với giá trị WQI đạt từ 76 đến 88 điểm (phân vùng màu xanh lá cây), phù hợp cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi áp dụng công nghệ xử lý thông thường theo cột A2 của QCVN 08-MT:2015/BTNMT. Nồng độ oxy hòa tan (DO) tại hồ đạt mức cao từ 6,2 đến 7,1 mg/l, độ pH ổn định trong khoảng 6,8 - 7,4.

Thứ hai, chất lượng nước bị suy giảm nghiêm trọng dọc theo tuyến kênh chính dẫn nước. Tại các điểm K4 (cầu Trung Liêm) và K7 (đầu kênh N33), chỉ số WQI giảm xuống mức 51-68 điểm (phân vùng màu vàng - chỉ dùng cho tưới tiêu). Nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ tăng vọt: chỉ số COD tăng từ 35% đến 58% so với đầu kênh K1, nồng độ BOD5 tăng từ 1,8 mg/l tại hồ lên mức 4,2 - 5,6 mg/l tại hạ lưu kênh, và hàm lượng Tổng Coliform tại một số điểm vượt từ 2,5 đến 4 lần giới hạn cho phép của cột A2.

Thứ ba, hồ tiếp nhận Cà Giang (H4) và hồ Cẩm Hang (H3) có dấu hiệu tích tụ chất dinh dưỡng và chất rắn lơ lửng. Hàm lượng phosphate (P-PO43-) tại hồ Cà Giang dao động từ 0,15 đến 0,38 mg/l, tổng chất rắn lơ lửng (TSS) trong mùa mưa vượt ngưỡng 30 mg/l, tạo nguy cơ phú dưỡng hóa và gây bồi lắng lòng hồ (dung tích hữu ích hiện hữu chỉ còn khoảng 523.000 m3).

Thứ tư, về mặt kết cấu kỹ thuật, qua khảo sát có nhiều đoạn kênh hở đi qua vùng đất tàn tích bị sạt trượt mái ta luy nghiêm trọng. Tỷ lệ rò rỉ và thất thoát nước trên toàn tuyến ước tính từ 15% đến 20% so với lưu lượng thiết kế đầu kênh Qtk = 13,5 m3/s, đồng thời 102 hạng mục công trình điều tiết trên kênh đã xuống cấp, làm giảm đáng kể năng lực tải nước cuối kênh (chỉ còn Q = 2,0 m3/s).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự suy thoái chất lượng nước dọc hệ thống sông Quao bắt nguồn từ việc kênh chính đi qua các vùng sản xuất nông nghiệp thâm canh cao (huyện Hàm Thuận Bắc có 124.479 ha đất nông nghiệp, trong đó 30.826 ha trồng cây hàng năm và thanh long). Nước mưa chảy tràn cuốn theo dư lượng phân bón chứa nitơ, photpho và thuốc bảo vệ thực vật trực tiếp xuống dòng kênh hở. Thêm vào đó, hơn 141.727 người dân nông thôn (chiếm 81,80% dân số toàn huyện) sinh sống ven kênh xả nước thải sinh hoạt và nước thải chăn nuôi chưa qua xử lý xuống lòng dẫn.

Khi so sánh với các nghiên cứu điển hình trên thế giới như hồ Laguna de Bay (Philippines) hay hồ Okeechobee (Mỹ), tình trạng ô nhiễm phân tán từ nông nghiệp và thiếu hành lang bảo vệ kênh dẫn luôn là rào cản lớn nhất đối với các hệ thống cấp nước hở.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa rất hiệu quả qua các biểu đồ biến thiên nồng độ COD, BOD5, Coliform dọc tuyến từ K1 đến K10 và bản đồ phân vùng WQI theo mùa. Đồ thị thể hiện rõ quy luật tích lũy ô nhiễm dạng bậc thang: chất lượng nước đạt đỉnh sạch tại thượng lưu đập chính Sông Quao, giảm dần khi đi qua các cụm dân cư xã Hàm Trí, Thuận Hòa, và chạm mức cảnh báo ô nhiễm hữu cơ khi về đến hồ Cà Giang trước cửa thu nước nhà máy. Điều này khẳng định kênh hở không có đê bao cách ly chính là "mắt xích yếu nhất" trong chuỗi cung ứng nước sạch của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để các nguy cơ ô nhiễm và đảm bảo an ninh nguồn nước, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Kiên cố hóa và cải tạo hạ tầng công trình kênh dẫn: Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Bình Thuận cần chủ trì thi công lát mái bê tông cốt thép kết hợp công nghệ ô địa kỹ thuật NEOWEB cho toàn bộ 24,68 km tuyến kênh chính và kênh nhánh N33; tiến hành nạo vét bùn bồi lắng tại hồ Cà Giang nhằm khôi phục dung tích hữu ích 523.000 m3; nâng cấp hệ thống cống điều tiết và 4 đập phụ hồ Sông Quao, đặt mục tiêu giảm tỷ lệ thất thoát nước xuống dưới 10% trong giai đoạn 2018-2022.
  2. Thiết lập hành lang bảo vệ nguồn nước và xử lý nước thải phân tán: UBND huyện Hàm Thuận Bắc phối hợp Sở Tài nguyên và Môi trường cắm mốc chỉ giới hành lang an toàn nguồn nước từ 5 đến 10 m dọc hai bên bờ kênh chính; nghiêm cấm các hoạt động xây dựng chuồng trại, rửa bình bơm thuốc trừ sâu ven kênh; hỗ trợ 100% các hộ chăn nuôi xây dựng hầm biogas; kiểm soát việc sử dụng hóa chất nông nghiệp trên 30.826 ha cây trồng, nhằm giảm 25-30% lượng chất hữu cơ và vi sinh thải vào nguồn nước giai đoạn 2020-2025.
  3. Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và cảnh báo ô nhiễm tự động: Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Bình Thuận đầu tư lắp đặt 02 trạm quan trắc tự động liên tục (online) đo DO, COD, pH, TSS tại cống đầu kênh Sông Quao (K1) và trạm bơm cấp nước Cà Giang (H4); đồng thời duy trì quan trắc định kỳ 4 đợt/năm tại 14 vị trí trọng điểm để kích hoạt quy trình ngắt dòng hoặc xử lý sự cố kịp thời.
  4. Hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp và cơ chế tài chính bền vững: Ban Quản lý Lưu vực sông Quao triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đối với 37.332 ha rừng phòng hộ đầu nguồn; thu phí bảo vệ môi trường đối với các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và áp dụng mô hình liên ngành giữa thủy lợi, tài nguyên môi trường và các nhà máy cấp nước sạch trong giai đoạn 2020-2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và quy hoạch: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Thuận cùng UBND huyện Hàm Thuận Bắc có thể sử dụng các số liệu và bản đồ WQI trong luận văn làm cơ sở pháp lý để phê duyệt hành lang bảo vệ nguồn nước và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất lúa, đất chuyên canh thanh long đến năm 2030.
  2. Đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi và cấp nước: Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình Thủy lợi Bình Thuận và Công ty Cổ phần Bình Hiệp (Nhà máy nước Cà Giang) áp dụng các thông số tính toán thủy lực, mức độ bồi lắng và rò rỉ để lập kế hoạch duy tu định kỳ 102 hạng mục công trình, đảm bảo an toàn cấp nước thô 24.360 m3/ngày đêm.
  3. Các viện nghiên cứu, trường đại học và học viên chuyên ngành: Giảng viên, sinh viên và nghiên cứu sinh thuộc ngành Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước, Kỹ thuật Hạ tầng có thể khai thác phương pháp luận tích hợp WQI 8 thông số và mô hình quản lý IWRM áp dụng cho các vùng bán khô hạn đặc thù ở Nam Trung Bộ.
  4. Cộng đồng doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp: Các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp quy mô lớn và hợp tác xã thanh long trên địa bàn lưu vực 296 km2 tham khảo các đánh giá về tải lượng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật để chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp sinh thái tuần hoàn, giảm thiểu tác động tiêu cực đến nguồn nước chung.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống cấp nước sông Quao giữ vai trò quan trọng như thế nào đối với tỉnh Bình Thuận?
Hồ Sông Quao có dung tích 80 triệu m3, cung cấp nước tưới cho 8.120 ha đất nông nghiệp và là nguồn nước thô duy nhất phục vụ hơn 53.360 m3/ngày đêm nước sinh hoạt cho TP. Phan Thiết và huyện Hàm Thuận Bắc, giải quyết căn bản tình trạng khô hạn điểm cực Nam Trung Bộ.

Chỉ số WQI trong luận văn được xác định thông qua những thông số kỹ thuật nào?
Chỉ số WQI được tính toán theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT dựa trên 8 thông số lý hóa - vi sinh quan trắc tại 14 vị trí: pH, DO, TSS, COD, BOD5, N-NH4+, P-PO43- và Tổng Coliform, giúp lượng hóa mức độ sạch của nước theo thang điểm 100.

Đâu là nguyên nhân chính khiến nước kênh dẫn bị ô nhiễm hữu cơ và vi sinh?
Tuyến kênh chính dài 24,68 km là kênh hở đi qua các vùng dân cư không có hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt của 141.727 dân cư nông thôn, đồng thời tiếp nhận trực tiếp nước rửa trôi phân bón và thuốc bảo vệ thực vật từ các vùng chuyên canh thanh long.

Công nghệ và giải pháp công trình nào được đề xuất để chống thất thoát nước?
Luận văn đề xuất kiên cố hóa 24,68 km mái kênh bằng bê tông cốt thép kết hợp vật liệu NEOWEB, nạo vét phục hồi 523.000 m3 dung tích hồ Cà Giang, sửa chữa 102 công trình trên kênh nhằm hạ tỷ lệ thất thoát nước từ 20% xuống dưới 10%.

Lộ trình thực hiện các giải pháp quản lý bền vững nguồn nước sông Quao được phân kỳ ra sao?
Giai đoạn 2018-2022 tập trung kiên cố hóa công trình và nạo vét hồ chứa; giai đoạn 2020-2025 triển khai cắm mốc hành lang an toàn và kiểm soát nguồn thải nông nghiệp; giai đoạn 2020-2030 hoàn thiện hệ thống quan trắc tự động và cơ chế tài chính chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 37.332 ha rừng.

Kết luận

  • Hồ chứa nước Sông Quao với dung tích 80 triệu m3 và lưu vực 296 km2 là công trình thủy lợi huyết mạch bảo đảm an ninh nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cho huyện Hàm Thuận Bắc và TP. Phan Thiết.
  • Nghiên cứu đã lượng hóa được sự suy giảm chất lượng nước từ mức tốt (WQI 76-88) tại lòng hồ xuống mức trung bình (WQI 51-68) dọc 24,68 km kênh chính do tác động cộng dồn của nước thải sinh hoạt và thâm canh nông nghiệp.
  • Luận văn đã đóng góp cơ sở dữ liệu quan trắc toàn diện tại 14 điểm xung yếu, đồng thời xác định 102 vị trí hư hỏng kết cấu công trình cần khắc phục khẩn cấp.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất kết hợp hài hòa giữa công trình kiên cố hóa NEOWEB, cắm mốc hành lang bảo vệ 5-10 m và vận hành trạm quan trắc tự động liên tục theo lộ trình đến năm 2030.
  • Các cơ quan quản lý và đơn vị khai thác thủy lợi cần sớm phê duyệt và triển khai đồng bộ các khuyến nghị của đề tài để bảo vệ nguồn nước sạch bền vững cho cộng đồng.