Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nguồn tài nguyên nước giữ vai trò thiết yếu đối với sức khỏe cộng đồng và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2015), áp lực về nước sạch ngày càng gia tăng trên phạm vi toàn cầu: khoảng 2,4 tỷ người sống trong môi trường vệ sinh chưa được cải thiện, 663 triệu người không được tiếp cận nguồn nước uống an toàn, và ước tính 1,8 tỷ người sẽ phải đối mặt với tình trạng khan hiếm nước tuyệt đối. Tại Việt Nam, nhiều địa phương duyên hải miền Trung đang chịu áp lực lớn về an ninh nguồn nước; trong đó, tỉnh Bình Định có trên 60% số xã, thị trấn thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Đợt hạn hán kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2016 đã khiến gần 7.800 hộ dân trên toàn tỉnh rơi vào cảnh thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng.
Tại thành phố Quy Nhơn, dù là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh, tình trạng thiếu nước sạch cục bộ vẫn diễn ra gay gắt. Cụ thể, gần 800 hộ dân tại khu vực 1 và khu vực 2 thuộc phường Ghềnh Ráng chưa được đấu nối hệ thống cấp nước tập trung do vị trí địa lý nằm tách biệt bên kia đèo Quy Hòa, nơi áp lực của mạng lưới cấp nước đô thị hiện hữu không thể vươn tới. Nguồn nước sinh hoạt duy nhất của các hộ dân tại đây là nước giếng khoan, giếng đào và một phần nước suối tự nhiên. Tuy nhiên, các nguồn nước này đều bị nhiễm phèn đậm đặc do cấu trúc địa chất, gây hư hại vật dụng gia đình và tiềm ẩn nguy cơ cao về bệnh tật đường ruột, bệnh ngoài da. Thực trạng này được phản ánh qua bài viết "Ở ngay trung tâm thành phố Quy Nhơn vẫn khát nước sạch" trên Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV, 16/8/2016). Nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng nước sạch và nguồn lực đầu tư hạ tầng công cộng, khóa luận tập trung giải quyết bài toán định lượng tổn hại kinh tế và ước lượng sự sẵn lòng chi trả của cộng đồng dân cư địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Tìm hiểu thực trạng nguồn nước sinh hoạt trên địa bàn khu vực 1 và khu vực 2, phường Ghềnh Ráng.
- Đánh giá tổn hại kinh tế do nước nhiễm phèn gây ra đối với sức khỏe và đời sống sinh hoạt của người dân tại hai khu vực nghiên cứu.
- Xác định mức sẵn lòng trả (WTP) của người dân cho mỗi mét khối nước sạch khi dự án cấp nước được triển khai.
- Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật và quản lý nhằm hạn chế tác hại của nguồn nước nhiễm phèn trong giai đoạn chờ dự án hoàn thành.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Địa bàn nghiên cứu: Khu vực 1 (189 hộ với 805 nhân khẩu) và khu vực 2 (586 hộ với 2.049 nhân khẩu) thuộc phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Thời gian nghiên cứu: Dữ liệu và đề tài được thực hiện từ ngày 15/10/2016 đến ngày 28/12/2016 (trong đó công tác điều tra thực địa thu thập số liệu sơ cấp diễn ra từ ngày 06/11/2016 đến ngày 30/11/2016).
- Đối tượng nghiên cứu: Nguồn nước ngầm sinh hoạt bị nhiễm phèn và hành vi kinh tế của các hộ gia đình liên quan đến chi phí y tế, chi phí ngăn ngừa và mức sẵn lòng chi trả cho nguồn nước sạch thay thế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thuộc chuyên ngành Kinh tế Tài nguyên Môi trường, áp dụng cách tiếp cận định lượng kết hợp kinh tế lượng và kỹ thuật định giá phi thị trường.
Về mặt lý luận môi trường, nước nhiễm phèn được xác định là nguồn nước có hàm lượng kim loại sắt ($Fe$) và mangan ($Mn$) vượt ngưỡng cho phép, tồn tại chủ yếu ở dạng ion hòa tan $Fe^{2+}$ và $Mn^{2+}$. Dưới tác động của oxy không khí, sắt (II) hydrocarbonat $Fe(HCO_3)_2$ nhanh chóng thủy phân và oxy hóa thành kết tủa sắt (III) hydroxit $Fe(OH)_3$, tạo độ đục, màu vàng nâu và mùi tanh đặc trưng. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN 01:2009/BYT của Bộ Y tế được sử dụng làm khung đối chiếu tiêu chuẩn, quy định giới hạn hàm lượng sắt tổng số không vượt quá 0,3 mg/l, mangan không vượt quá 0,1 mg/l và nhôm không vượt quá 0,2 mg/l.
Về phương pháp định giá kinh tế môi trường, khóa luận tích hợp ba công cụ phân tích chủ đạo:
- Phương pháp tài sản nhân lực (Human Capital Method): Đánh giá tổn hại sức khỏe thông qua hàm chi phí sức khỏe (CPSK) dạng Cobb-Douglas tuyến tính hóa bằng logarit tự nhiên (Log-Log):
$$\ln(CPSK) = \alpha_0 + \alpha_1 \ln(TUOI) + \alpha_2 \ln(TNHAP) + \alpha_3 \ln(LNUOC) + \alpha_4 \ln(MUCDO) + \alpha_5 BTNIEN + \alpha_6 M + \varepsilon$$
Các biến giải thích gồm: độ tuổi ($TUOI$), thu nhập bình quân ($TNHAP$), lượng nước giếng sử dụng ($LNUOC$), mức độ cảm nhận ô nhiễm ($MUCDO$), tiền sử bệnh mãn tính ($BTNIEN$) và biến giả áp dụng máy lọc phèn ($M$). Thiệt hại xã hội bổ sung được tính bằng tổng số ngày mất sức lao động và ngày nghỉ chăm sóc người bệnh nhân với mức tiền công lao động bình quân ngày tại địa phương.
- Phương pháp giá thị trường: Xác định tổn hại sinh hoạt trực tiếp gồm chi phí mua thêm nước sạch đóng bình/xe bồn và chi phí đầu tư, khấu hao thiết bị lọc thủ công hoặc máy lọc nước gia đình. Giá trị hoàn vốn hàng năm của thiết bị lọc được chiết khấu theo công thức:
$$E = \frac{A_i \cdot (1+r) \cdot r}{(1+r)^n - 1}$$
với suất chiết khấu $r = 10%$ và thời gian khấu hao kỹ thuật $n$ năm.
- Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) và mô hình Tobit: Khóa luận thiết lập một kịch bản thị trường giả định về dự án "Xây dựng các trạm bơm tăng áp cấp nước sạch" do Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định chủ trương và giao Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bình Định thực hiện dưới sự giám sát của Sở Tài nguyên và Môi trường. Kỹ thuật phỏng vấn sử dụng thẻ thanh toán (Payment Card) với dải giá từ 0 đến 3.900 VNĐ/$m^3$. Do biến phụ thuộc mức sẵn lòng chi trả ($WTP$) có phân phối bị chặn dưới tại điểm 0 (kiểm duyệt bên trái), mô hình hồi quy Tobit kiểm duyệt (Censored Tobit Model) theo nguyên lý hợp lý cực đại (Maximum Likelihood - ML) được vận dụng:
$$WTP_i^* = \beta_0 + \beta_1 GT_i + \beta_2 TUOI_i + \beta_3 TDHV_i + \beta_4 TNHAP_i + \beta_5 STEM_i + \beta_6 MDAH_i + \beta_7 CPSK_i + \beta_8 TQT_i + \varepsilon_i$$
Trong đó, $WTP_i = WTP_i^$ nếu $WTP_i^ > 0$ và $WTP_i = 0$ nếu $WTP_i^* \le 0$. Tác động biên của từng yếu tố độc lập lên $WTP$ được tính toán cùng hệ số xác định $R^2$-Pseudo theo công thức của Laitila (1993).
Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp bảng hỏi soạn sẵn với 130 hộ dân được chọn ngẫu nhiên. Để loại bỏ quan sát dị biệt và nâng cao độ tin cậy của ước lượng thống kê, tác giả áp dụng kỹ thuật cắt tỉa hai cực $\alpha$-trimmed với ngưỡng $\alpha = 0,05$, loại bỏ 7 quan sát cực đại và 6 quan sát cực tiểu, giữ lại cỡ mẫu chính thức $N = 117$ quan sát để xử lý trên phần mềm Eviews 8.0 và Excel. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định, Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bình Định, Trung tâm Y tế Dự phòng tỉnh và Ủy ban nhân dân phường Ghềnh Ráng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Mở đầu
Chương này thiết lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nghịch lý thiếu nước sinh hoạt hợp chuẩn tại đô thị Quy Nhơn, đặc biệt là khu vực dân cư bị cô lập về địa hình sau đèo Quy Hòa. Tác giả xác định rõ hệ thống mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu là nguồn nước nhiễm phèn, phạm vi không gian tại khu vực 1 và khu vực 2 phường Ghềnh Ráng, cùng tiến độ thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài hơn hai tháng trong quý IV năm 2016. Cấu trúc luận văn được phân bổ logic thành 5 chương.
Chương 2: Tổng quan
Chương 2 tổng thuật hệ thống nghiên cứu tiền nhiệm trong nước về định giá kinh tế nguồn nước và chi phí bệnh tật, tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Lệ (2008) tại Phú Yên, Nguyễn Thị Hồng Trang (2008) tại Thủ Đức, Trần Lê Bảo Trâm (2009) tại Bình Tân, Trần Minh Chiến (2016) tại TP.HCM và Su Thị Oanh Hoa (2012) tại Phú Quốc. Từ đó, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu và xác lập tính mới của đề tài khi kết hợp kỹ thuật Payment Card với mô hình Tobit.
Phần tiếp theo của chương khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Định, thành phố Quy Nhơn và phường Ghềnh Ráng. Số liệu thống kê cho thấy phường Ghềnh Ráng có diện tích tự nhiên 2.635 ha, đường bờ biển dài 12,5 km, quy mô dân số gồm 2.950 hộ với 12.355 nhân khẩu phân bổ ở 5 khu vực. Cơ cấu kinh tế của phường nghiêng hẳn về thương mại - dịch vụ du lịch (chiếm 47%), công nghiệp - xây dựng chiếm 34%, nông lâm thủy sản chiếm 19%; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 36 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 0,75% (22 hộ) và cận nghèo chiếm 0,68% (20 hộ). Hai khu vực nghiên cứu có 775 hộ dân (khu vực 1: 189 hộ; khu vực 2: 586 hộ) chịu ảnh hưởng trực tiếp do chưa có trạm bơm tăng áp.
Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả hệ thống hóa bản chất hóa sinh của hiện tượng nhiễm phèn nguồn nước ngầm, các công thức phản ứng oxy hóa khử của sắt, tác hại của nước nhiễm sắt, mangan, nhôm đối với cơ thể người và độ bền trang thiết bị gia dụng. Chương này trình bày chi tiết cơ sở lý thuyết kinh tế phúc lợi về mức sẵn lòng trả ($WTP$) và mức sẵn lòng chấp nhận đền bù ($WTA$).
Quy trình thiết kế công cụ điều tra CVM được thuyết minh chặt chẽ: từ xây dựng kịch bản thị trường giả định, cơ chế thanh toán qua hóa đơn tiền nước, cấu trúc bảng hỏi, đến phân tích so sánh ưu nhược điểm của 4 phương pháp phỏng vấn WTP (câu hỏi mở, trò chơi thách giá Bidding Games, câu hỏi đóng Dichotomous Choice và thẻ thanh toán Payment Card). Tác giả thiết lập công thức ước lượng hàm chi phí sức khỏe Cobb-Douglas, mô hình hồi quy Tobit, công thức đo lường tác động biên của Wooldridge (2002), kiểm định đa cộng tuyến bằng hệ số phóng đại phương sai (VIF), kiểm định phương sai sai số thay đổi và hệ số xác định $R^2$-Pseudo của Laitila (1993). Bảng kỳ vọng dấu của các biến độc lập được lập luận chi tiết dựa trên lý thuyết kinh tế vi mô.
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 4 phản ánh toàn bộ các phát hiện thực nghiệm của đề tài:
- Hiện trạng chất lượng nước: Phân tích thứ cấp về trữ lượng nước ngầm tỉnh Bình Định và kết quả kiểm tra mẫu nước giếng sinh hoạt tại khu vực 2 cho thấy nguồn nước có nồng độ kim loại nặng và phèn vượt quy chuẩn QCVN 01:2009/BYT. Khảo sát 117 hộ dân ghi nhận 100% người dân phản ánh nước có màu biến đổi khi tiếp xúc không khí, mùi tanh đậm đặc; các bệnh lý phổ biến gồm bệnh ngoài da, kích ứng niêm mạc, bệnh tiêu hóa và hư hỏng men răng.
- Thống kê mô tả xã hội học: Phân tích cơ cấu nhân khẩu, độ tuổi, trình độ học vấn, cơ cấu nghề nghiệp và thu nhập của mẫu khảo sát. Đa số người dân nhận thức rõ nguồn nước gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe và đánh giá dự án trạm bơm tăng áp có tính cấp bách cao.
- Lượng hóa tổn hại kinh tế: Áp dụng phương pháp tài sản nhân lực và chi phí bệnh tật, hàm chi phí sức khỏe (CPSK) được ước lượng và kiểm định không vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Kết hợp với tổn hại trực tiếp về nước sinh hoạt (chi phí mua nước sạch đóng bình và chi phí vận hành hệ thống lọc thủ công), tổng thiệt hại do nguồn nước nhiễm phèn gây ra cho cư dân khu vực 1 và khu vực 2 được tính toán đạt 1,071 tỷ đồng/năm.
- Ước lượng kinh tế lượng Tobit: Kết quả hồi quy xác định mức sẵn lòng chi trả bổ sung bình quân là 1.591 VNĐ/$m^3$ nước sạch. Biến mức độ ảnh hưởng của nước đến sức khỏe ($MDAH$) có tác động cùng chiều mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê cao nhất đến mức $WTP$. Tác giả đồng thời tính toán chi tiết tác động biên của từng biến độc lập.
- Giải pháp chuyển tiếp: Thuyết minh quy trình kỹ thuật hệ thống lọc thô nhiều tầng vật liệu (cát, sỏi, than hoạt tính, giàn mưa oxy hóa) và các biện pháp dân gian nhằm xử lý nước tại chỗ trong thời gian chờ đợi công trình cấp nước tập trung. Đánh giá ý nghĩa thực tiễn và nêu rõ các hạn chế nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng hợp các kết quả cốt lõi về tổn hại kinh tế và mức sẵn lòng chi trả của người dân. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị chính sách hướng tới Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bình Định nhằm ưu tiên bố trí vốn và đẩy nhanh tiến độ thi công trạm bơm tăng áp đưa nước sạch qua đèo Quy Hòa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về tổn hại kinh tế và tiềm năng tài chính cộng đồng trong việc cải thiện dịch vụ cấp nước đô thị. Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật chính thu được từ nghiên cứu:
| Chỉ tiêu kinh tế / Thông số mô hình |
Giá trị định lượng |
Ghi chú phương pháp / Đơn vị |
| Quy mô mẫu khảo sát ban đầu |
130 |
Hộ gia đình tại khu vực 1 và 2 |
| Quy mô mẫu sau xử lý $\alpha$-trimmed |
117 |
Loại 13 quan sát biên ($\alpha = 0,05$) |
| Mức tổn hại kinh tế do nước nhiễm phèn |
1,071 |
Tỷ đồng/năm (gồm sức khỏe và sinh hoạt) |
| Mức sẵn lòng trả thêm trung bình ($WTP$) |
1.591 |
VNĐ/$m^3$ nước sạch |
| Tổng mức sẵn lòng trả thêm ước tính toàn vùng |
Khoảng 217.000 |
VNĐ/năm (theo giá trị ước tính của tác giả) |
| Phương pháp phỏng vấn định giá ngẫu nhiên |
Payment Card |
Dải giá đề xuất từ 0 đến 3.900 VNĐ/$m^3$ |
| Mô hình kinh tế lượng ước lượng WTP |
Tobit Censored |
Ước lượng Maximum Likelihood (ML) |
| Mô hình hồi quy hàm chi phí sức khỏe |
Cobb-Douglas |
Dạng Log-Log ước lượng trên Eviews 8.0 |
| Suất chiết khấu tính khấu hao thiết bị lọc ($r$) |
10 |
%/năm |
| Yếu tố tác động quyết định nhất đến WTP |
Biến $MDAH$ |
Mức độ ảnh hưởng nguồn nước đến sức khỏe |
Các giải pháp và kiến nghị cụ thể được tác giả xác lập gồm:
- Kiến nghị quy hoạch và đầu tư: Đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định và Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bình Định khẩn trương phê duyệt, bố trí nguồn vốn đối ứng và triển khai xây dựng trạm bơm tăng áp cùng tuyến đường ống cấp nước chuyên dụng vượt đèo Quy Hòa. Kết quả khảo sát mức $WTP$ (1.591 VNĐ/$m^3$) là căn cứ thực tiễn để đơn vị cấp nước xây dựng phương án giá bán nước có phụ thu hợp lý nhằm bù đắp chi phí vận hành và khấu hao hạ tầng kỹ thuật.
- Giải pháp kỹ thuật tạm thời: Hướng dẫn các hộ dân xây dựng mô hình bể lọc thô nhiều ngăn kết hợp giàn phun mưa làm thoáng nhằm đẩy nhanh quá trình oxy hóa $Fe^{2+}$ thành $Fe^{3+}$, sử dụng than hoạt tính và cát thạch anh hấp phụ kim loại nặng, giúp giảm thiểu rủi ro bệnh tật trong sinh hoạt hàng ngày.
Đóng góp về mặt học thuật của khóa luận nằm ở việc giải quyết thỏa đáng hạn chế của các nghiên cứu CVM trước đây tại Việt Nam vốn chủ yếu áp dụng câu hỏi đóng nhị thức kết hợp hồi quy Logit/Probit (dễ dẫn đến sai lệch điểm xuất phát). Bằng cách kết hợp kỹ thuật thẻ thanh toán (Payment Card) với mô hình hồi quy Tobit xử lý dữ liệu bị chặn tại 0, tác giả thu nhận được giá trị $WTP$ liên tục, phản ánh sát thực mức chi trả tối đa của hộ gia đình và đo lường chính xác tác động biên của các biến nhân khẩu học và cảm nhận rủi ro y tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận đã thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nhất định xuất phát từ điều kiện thực hiện:
- Hạn chế về quy mô và kỹ thuật chọn mẫu: Do kinh phí và thời gian điều tra thực địa có hạn (thực hiện trong tháng 11/2016), quy mô mẫu sau khi làm sạch bằng phương pháp $\alpha$-trimmed chỉ đạt 117 quan sát. Dù thỏa mãn yêu cầu thống kê tối thiểu cho mô hình Tobit, cỡ mẫu này chưa bao quát hết sự biến động phân hóa xã hội học ở các ngõ ngách vùng sâu của khu vực 2.
- Đặc trưng sai lệch của phương pháp Payment Card: Mặc dù kỹ thuật thẻ thanh toán triệt tiêu được sai lệch do người phỏng vấn dẫn dắt trong trò chơi thách giá, phương pháp này vẫn tiềm ẩn nguy cơ tâm lý khiến người trả lời có xu hướng tập trung chú ý vào các mức giá thấp hiển thị trên thẻ, dẫn đến giá trị $WTP$ ước lượng có thể thấp hơn mức hữu dụng biên thực tế.
- Giới hạn không gian phân tích: Đề tài chỉ tập trung vào phạm vi hẹp tại khu vực 1 và khu vực 2 phường Ghềnh Ráng, chưa tiến hành điều tra đối chứng với các địa bàn lân cận cũng chịu ảnh hưởng của đèo Quy Hòa thuộc thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và ứng dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên hai giới hạn (Double-Bounded Dichotomous Choice) song song với Payment Card để kiểm chứng chéo mức độ vững của tham số WTP.
- Thực hiện đánh giá tác động sau khi dự án trạm bơm tăng áp đi vào vận hành (Ex-post evaluation) nhằm so sánh chi phí sẵn lòng trả giả định với hành vi tiêu dùng nước và mức chi trả thực tế của người dân, từ đó hoàn thiện khung phân tích kinh tế lượng trong định giá dịch vụ công ích.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn chuyên sâu dành cho:
- Sinh viên và học viên cao học: Đặc biệt là người học chuyên ngành Kinh tế Tài nguyên Môi trường, Kinh tế Phát triển, Quản lý Đô thị và Kỹ thuật Môi trường. Đề tài cung cấp một nghiên cứu tình huống điển hình về quy trình thực hiện nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng: từ thiết kế bảng hỏi CVM, kỹ thuật xử lý dữ liệu dị biệt bằng phương pháp cắt tỉa $\alpha$-trimmed, đến thao tác ước lượng mô hình Tobit và kiểm định khuyết tật mô hình (VIF, Breusch-Godfrey, $R^2$-Pseudo) trên phần mềm Eviews.
- Cơ quan quản lý và doanh nghiệp cấp nước: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định, Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn và Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bình Định trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội (CBA) của dự án cấp nước qua đèo Quy Hòa, làm căn cứ định xuất mức thu giá nước sinh hoạt phù hợp với năng lực chi trả của dân cư địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguyên nhân chính khiến người dân khu vực 1 và khu vực 2 phường Ghềnh Ráng không thể tiếp cận nguồn nước sạch đô thị là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do yếu tố địa hình ngăn cách: hai khu vực này nằm bên kia đèo Quy Hòa, tách biệt với trung tâm đô thị Quy Nhơn. Áp lực của hệ thống đường ống cấp nước sạch hiện hữu của thành phố không đủ mạnh để đẩy nước vượt qua đèo, trong khi hạ tầng trạm bơm tăng áp chưa được xây dựng hoàn thiện.
2. Tổng quy mô mẫu điều tra ban đầu là bao nhiêu và tác giả đã làm sạch dữ liệu bằng cách nào trước khi đưa vào mô hình kinh tế lượng?
Khảo sát ban đầu được thực hiện ngẫu nhiên trên 130 hộ gia đình. Tác giả đã áp dụng phương pháp cắt bỏ giá trị hai cực $\alpha$-trimmed với ngưỡng $\alpha = 0,05$ (loại bỏ 7 mẫu có chi phí sức khỏe hoặc WTP cao nhất và 6 mẫu có giá trị thấp nhất) để loại trừ các quan sát bất thường (outliers), thu được tập mẫu phân tích chính thức gồm 117 quan sát.
3. Tổng tổn hại kinh tế do nguồn nước nhiễm phèn gây ra tại hai khu vực nghiên cứu được ước tính là bao nhiêu?
Áp dụng phương pháp tài sản nhân lực và phương pháp giá thị trường, tổng tổn hại kinh tế do nước nhiễm phèn gây ra đối với đời sống cư dân khu vực 1 và khu vực 2 phường Ghềnh Ráng được xác định là 1,071 tỷ đồng mỗi năm, bao gồm chi phí điều trị bệnh tật, tổn thất ngày công lao động và chi phí mua sắm thiết bị, mua thêm nước sạch bên ngoài.
4. Mức sẵn lòng trả thêm trung bình cho mỗi mét khối nước sạch của người dân được xác định bằng bao nhiêu và thông qua mô hình nào?
Thông qua kỹ thuật thẻ thanh toán (Payment Card) và ước lượng mô hình hồi quy Tobit kiểm duyệt (Censored Tobit Model) xử lý biến phụ thuộc bị chặn tại 0, mức sẵn lòng trả thêm trung bình của người dân tại hai khu vực được xác định là 1.591 VNĐ/$m^3$ nước sạch.
5. Yếu tố nào có ảnh hưởng mang tính quyết định nhất đến mức sẵn lòng trả (WTP) của người dân theo kết quả mô hình hồi quy?
Kết quả phân tích tác động biên và kiểm định ý nghĩa thống kê trong mô hình Tobit chỉ ra rằng biến "Mức độ ảnh hưởng của nguồn nước đến sức khỏe" ($MDAH$) là yếu tố có tác động tích cực và chi phối mạnh nhất đến quyết định chi trả của người được phỏng vấn; người dân nhận thức nguy cơ sức khỏe càng lớn thì mức sẵn lòng trả tiền cho nước sạch càng cao.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Hồng đã phản ánh toàn diện thực trạng thiếu nước sạch sinh hoạt tại khu vực 1 và khu vực 2 phường Ghềnh Ráng, thành phố Quy Nhơn, đồng thời lượng hóa thành công tổng thiệt hại kinh tế do nước nhiễm phèn gây ra ở mức 1,071 tỷ đồng/năm. Thông qua mô hình hồi quy Tobit kết hợp kỹ thuật thẻ thanh toán CVM, nghiên cứu xác định mức sẵn lòng trả thêm trung bình của người dân là 1.591 VNĐ/$m^3$ nước sạch, chịu sự chi phối mạnh nhất bởi nhận thức rủi ro sức khỏe. Đây là luận cứ khoa học và thực tiễn xác đáng, khẳng định tính cấp bách của việc đầu tư xây dựng các trạm bơm tăng áp đưa nguồn nước sạch đô thị vượt đèo Quy Hòa nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho cộng đồng dân cư địa phương.