Mở đầu Trình bày sự cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu và cấu trúc của đề tài. Chương 2: Tổng quan Giới thiệu tổng quan về tài liệu nghiên cứu, điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế- xã hội của địa bàn nghiên cứu. Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Trình bày cơ sở lý luận, các khái niệm liên quan đến vấn đề nguồn nước sạch, nguồn nước nhiễm phèn, ảnh hưởng của nước nhiễm phèn tới sức khỏe. Trình bày nội dung và các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài như: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp xử lý số liệu, phương pháp tài sản nhân lực, phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM), phương pháp phân tích hồi quy.
Chương 4: Kết quả và thảo luận Mô tả thực trạng và mức độ nguồn nước nhiễm phèn tại địa bàn nghiên cứu. Đánh giá tổn hại do nước nhiễm phèn gây ra. Xác định mức sẵn lòng trả của người dân cho mỗi m3 nước sạch khi dự án xây dựng các trạm bơm tăng áp cấp nước sạch hoàn thành. Từ đó đề xuất một số biện pháp khắc phục tình trạng nước nhiễm phèn hiện tại.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày kết quả chính của nghiên cứu và đưa ra kiến nghị. 4 Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, đề tài “Đánh giá tổn hại do nước nhiễm phèn và mức sẵn lòng trả của người dân cho nước sạch tại phường Ghềnh Ráng thành phố Quy Nhơn tỉnh Bình Định” có tham khảo các tài liệu liên quan đến chuyên ngành kinh tế cũng như các luận văn tốt nghiệp như: Nguyễn Thị Mỹ Lệ (2008) đã có một nghiên cứu “Đánh giá tổn hại về sức khỏe và mức sẵn lòng trả để cải thiện nguồn nước bị nhiễm Flour xã Xuân Phước huyện Đồng Xuân tỉnh Phú Yên”. Đề tài đã cho thấy thực trạng nguồn nước bị nhiễm Flour nghiêm trọng và công tác quản lý, bảo vệ nguồn nước của người dân và chính quyền địa phương.
Đề tài cũng đã đánh giá được tổn hại đối với sức khỏe của người dân trong khu vực do nguồn nước nhiễm Flour trong năm 2007 là 180.000 đồng và sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) thông qua hồi quy hàm Logit để xác định mức sẵn lòng trả nhằm cải thiện nguồn nước ở đây là 2. Qua đó, tác giả đã đề xuất một số biện pháp góp phần cải thiện tình trạng ô nhiễm nguồn nước. Nguyễn Thị Hồng Trang (2008) đã sử dụng nhiều phương pháp như: thống kê mô tả, chi phí bệnh tật, chi tiêu ngăn ngừa (AEM) để thấy được giá trị sử dụng của nước ngầm bị mất và lượng hóa thành tiền giúp cho địa phương, cơ quan quản lý tài nguyên cấp trên nhận định một cách cụ thể, rõ ràng về tổn hại kinh tế do ô nhiễm nguồn nước ngầm tại khu phố 3, phường Bình Chiểu, quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh. Thông qua điều tra phỏng vấn 100 hộ dân, ước tính được tổng thiệt hại tối thiểu cho toàn khu phố 3, phường Bình Chiểu là 2.
Cụ thể, tổn hại cho chi tiêu ngăn Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 ngừa là 976.808 đồng và tổn hại sức khỏe là 1.000 đồng/năm, trong đó, chi phí cho bệnh đường ruột là 1.938 đồng/năm và chi phí cho bệnh ngoài da là 102. Ngoài ra, kết quả tổn hại kinh tế này còn là cơ sở đánh giá lợi ích hệ thống đường ống dẫn nước của trạm tại địa phương. Trần Lê Bảo Trâm (2009) đã có nghiên cứu tìm hiểu thực trạng và đánh giá được mức độ nhận thức của người dân về chất lượng nguồn nước mà họ đang sử dụng tại phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân. Đề tài đã sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) qua hồi quy hàm Logit để thực hiện cuộc khảo sát về mức WTP trung bình của mỗi hộ dân phường Bình Hưng Hòa A cho dự án cung cấp nước sạch sinh hoạt.
Với tổng mức sẵn lòng đóng góp trung bình là 13.964 VNĐ, chiếm 48% tổng chi phí xây dựng và lắp đặt hệ thống trạm cấp nước tập trung. Trong đó, mức sẵn lòng đóng góp trung bình của mỗi hộ là 985.138 VNĐ/hộ, chiếm 19% tổng thu nhập bình quân mỗi hộ và chi phí mà mỗi hộ dùng để mua nước uống, nấu ăn hàng tháng là 115.000 VNĐ, chiếm 12% mức sẵn lòng đóng góp. Bên cạnh đó, đề tài cũng đã cho thấy mức sẵn lòng đóng góp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, song yếu tố quan trọng nhất là độ an toàn của nguồn nước mà gia đình đang sử dụng. Trần Minh Chiến (2016) đã đánh giá thực trạng ngập nước và nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu cũng như tác động của ngập nước đến thành phố Hồ Chí Minh.
Bằng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, đề tài đã xác định mức sẵn lòng trả của hộ dân cho giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu đối với dự án giảm ngập nước tại thành phố Hồ Chí Minh thông qua hồi quy mô hình Tobit với mức sẵn lòng trả trung bình của mỗi hộ dân là 135.000 VND và dự báo được tổng giá trị đóng góp của toàn khu vực TP.HCM là 246,351 tỷ VND, tương đương với 12,32 triệu USD. Đề tài cũng đã đề xuất một số chính sách cho giải pháp thích ứng biến đổi khí hậu đối với dự án giảm ngập nước tại thành phố Hồ Chí Minh. Su Thị Oanh Hoa, (2012) có nghiên cứu về “The case of Phu Quoc Island, Vietnam” - Định giá giá trị tự nhiên của đảo Phú Quốc. Bài nghiên cứu này đã cho thấy giá trị tự nhiên của đảo Phú Quốc bao gồm: giá trị sử dụng trực tiếp là mục đích giải trí và giá trị sử dụng gián tiếp là việc cải thiện điều kiện môi trường, đồng thời cũng đề cập 6 Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 đến các vấn đề suy thoái môi trường mà Phú Quốc đang phải đối mặt thông qua việc phỏng vấn cả khách du lịch trong nước và khách du lịch nước ngoài.
Phương pháp chi phí du hành (TCM) và định giá ngẫu nhiên (CVM) được sử dụng vào bài nghiên cứu để làm rõ 2 giá trị trên. Cụ thể, với phương pháp chi phí du hành (TCM), tổng giá trị du lịch giải trí là 63 triệu USD/năm, trong đó, thặng dư tiêu dùng cá nhân là 294 USD/năm. Với phương pháp định giá ngẫu nhiên, nghiên cứu đã sử dụng câu hỏi mở cho cả chương trình bảo tồn thiên nhiên và cải thiện môi trường tại Phú Quốc, xác định được các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng trả như: trình độ học vấn, thu nhập và biến giả người nước ngoài thông qua hồi quy Probit và xác định được mức WTP trung bình cho việc bảo tồn thiên nhiên ở đảo là 4,46 USD/người/lượt tham quan thông qua hồi quy Tobit. Trên cơ sở tham khảo các tài liệu trên và một số tài liệu khác có liên quan, đề tài đã sử dụng phương pháp tài sản nhân lực, hồi quy hàm chi phí sức khỏe và phương pháp giá thị trường để đánh giá tổn hại do nguồn nước nhiễm phèn gây ra đối với sức khỏe và nước sinh hoạt của người dân.
Đồng thời xác định được mức sẵn lòng trả, các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân để có nguồn nước sạch cho khu vực thông qua mô hình hồi quy Tobit bằng phương pháp hỏi Payment Card, đây cũng là điểm mới so với các đề tài tham khảo trên. Từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp để khắc phục tình trạng nhiễm phèn của nguồn nước. Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định 2. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Bình Định Bình Định là một tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp Biển Đông với đường bờ biển thuộc đất liền dài 134 km.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 605. - Cực Bắc: 14042'10" độ vĩ bắc, 108055'42" độ kinh đông. - Cực Nam: 13030'10" độ vĩ bắc, 108054'00" độ kinh đông. - Cực Đông: 13036'33" độ vĩ bắc, 109022'00" độ kinh đông.
7 Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 - Cực Tây: 14025'00" độ vĩ bắc, 108037'30" độ kinh đông. Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, thị, thành phố bao gồm: thành phố Quy Nhơn, thị xã An Nhơn và 09 huyện gồm có 3 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh); 02 huyện trung du (Tây Sơn, Hoài Ân); 04 huyện vùng đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Cát, Tuy Phước, Phù Mỹ) và 159 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn. Bình Định được đánh giá là nơi có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, được xem là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên, vùng Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Dân số trung bình của tỉnh Bình Định năm 2014 khoảng 1514,5 nghìn người, trong đó khu vực thành thị 469,5 nghìn người chiếm 31% và nông thôn 1045 nghìn người chiếm 69%.
(UBND tỉnh Bình Định, 2016) Khí hậu của tỉnh Bình Định mang tính chất nhiệt đới ẩm, gió mùa. Nhiệt độ không khí trung bình năm tại khu vực miền núi là 20,10C - 26,10C; tại vùng duyên hải là 270C. Độ ẩm tuyệt đối trung bình tháng trong năm: tại khu vực miền núi là 22,5% - 27,9% và độ ẩm tương đối từ 79% - 92%; tại vùng duyên hải độ ẩm tuyệt đối trung bình là 27,9% và độ ẩm tương đối là 79%. Tổng lượng mưa hằng năm tỉnh Bình Định khá lớn, trung bình vào khoảng 1600-3000mm, là tỉnh có tổng lượng mưa năm lớn nhất khu vực duyên hải Nam Trung Bộ.
Địa hình Bình Định nghiêng dần từ Tây sang Đông, có thể phân thành 4 dạng chính như sau: - Vùng núi cao và trung bình: Vùng này nằm về phía Tây chiếm 70% diện tích của tỉnh (4. Cao từ 500 đến 700m độ dốc trên 250 kéo dài theo chiều Bắc Nam qua các huyện Hoài Ân, An Lão, Vĩnh Thạnh và Vân Canh. Vùng Hoài Ân, Vân Canh có dãy núi cao trên 1. Địa hình vùng này phân cách mạnh, sông suối có độ dốc lớn, lớp phủ thực vật trung bình.
Độ cao dưới 100m, độ dốc từ (100 - 150), lớp phủ thực vật kém. 8 Downloaded by ANH LE (bachvan14@gmail.com) lOMoARcPSD|39108650 - Vùng đồng bằng ven biển: Chiếm 15% diện tích khoảng (907,6 km2), nhỏ hẹp theo chiều hạ lưu các sông và bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ. Độ cao biến đổi từ 2- 3m đến 20-30m, xen giữa đồng bằng gò đồi. Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp chính của tỉnh.