Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (Mã số: 9620115) của nghiên cứu sinh Huỳnh Thị Đan Xuân, do PGS.TS. Huỳnh Việt Khải hướng dẫn tại Trường Đại học Cần Thơ (năm 2023), mang tiêu đề: "Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình ở Đồng bằng sông Cửu Long". Công trình được hỗ trợ kinh phí một phần từ Dự án Nâng cấp Trường Đại học Cần Thơ (VN14-P6) bằng nguồn vốn vay ODA từ Chính phủ Nhật Bản.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Quản lý chất thải rắn (CTR) là một trong những thách thức môi trường lớn tại Việt Nam. Theo thống kê giai đoạn 2009–2018, chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) tại các đô thị tăng trung bình từ 10% đến 16% mỗi năm, chiếm trên 50% tổng lượng CTRSH của cả nước (tăng từ 32.000 tấn/ngày năm 2014 lên mức cao hơn trong các năm tiếp theo). Trong khi đó, tỷ lệ thu gom CTR khu vực nông thôn mới đạt khoảng 66% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020), tỷ lệ tái chế chỉ chiếm khoảng 10% lượng thu gom (Ngân hàng Thế giới, 2018), và khoảng 71% lượng CTR thu gom được xử lý bằng biện pháp chôn lấp với 80% bãi chôn lấp không hợp vệ sinh.

Về mặt lý luận, các hoạt động quản lý CTR là hàng hóa phi thị trường, thường không có giá hoặc giá biểu thị không phản ánh đầy đủ giá trị thực (Anaman và Jair, 2000). Đa phần các nghiên cứu trước đây tiếp cận theo hướng đo lường mức sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân để cải thiện dịch vụ. Tuy nhiên, việc phân loại CTR tại nguồn gây ra sự bất tiện đáng kể cho hộ gia đình về không gian, thời gian và công sức (Huhtala, 2010). Khi quyền sở hữu đối với hoạt động phân loại thuộc về hộ gia đình, sự thay đổi này tạo ra sự sụt giảm hữu dụng ban đầu, đòi hỏi phải sử dụng thước đo mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) để bù đắp thiệt hại. Tại Việt Nam nói chung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng, chưa có nghiên cứu nào kết hợp đồng thời phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) và phương pháp mô hình lựa chọn (CM) để đo lường giá trị kinh tế của chương trình giảm lượng CTR thông qua thước đo WTA.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu chung: Định giá giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình ở ĐBSCL, từ đó cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất các giải pháp giảm lượng CTR và nâng cao chất lượng hoạt động quản lý CTR tại vùng.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích tình hình quản lý CTR của hộ gia đình ở ĐBSCL.
    2. Ước tính giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng CTR của hộ gia đình.
    3. Đề xuất một số giải pháp làm giảm lượng CTR của hộ gia đình và nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý CTR ở ĐBSCL.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Thực trạng về tình hình quản lý CTR của hộ gia đình ở ĐBSCL như thế nào?
  2. Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm CTR của hộ gia đình là bao nhiêu?
  3. Những giải pháp nào cần được ưu tiên thực hiện để nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý CTR của hộ gia đình hiện nay ở khu vực ĐBSCL?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng khảo sát: Các hộ gia đình sinh sống tại khu vực đô thị ở ĐBSCL.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu phân tầng theo loại đô thị (loại I, II, III) và mức độ thay đổi lượng CTR được xử lý đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia giữa năm 2014 và 2015 tại 4 thành phố thuộc ĐBSCL:
    • Thành phố Cần Thơ: Đô thị loại I trực thuộc Trung ương, lượng CTR xử lý đạt chuẩn tăng từ 69 tấn/ngày (2014) lên 281 tấn/ngày (2015), chênh lệch +212 tấn/ngày; mẫu khảo sát 169 đáp viên.
    • Thành phố Long Xuyên (tỉnh An Giang): Đô thị loại II trực thuộc tỉnh, lượng CTR xử lý đạt chuẩn giảm từ 115 tấn/ngày (2014) xuống 99 tấn/ngày (2015), chênh lệch -16 tấn/ngày; mẫu khảo sát 146 đáp viên.
    • Thành phố Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long): Đô thị loại III, lượng CTR xử lý đạt chuẩn không đổi giữa hai năm (82 tấn/ngày), chênh lệch 0 tấn/ngày; mẫu khảo sát 120 đáp viên.
    • Thành phố Vị Thanh (tỉnh Hậu Giang): Đô thị loại III, lượng CTR xử lý đạt chuẩn giảm từ 128 tấn/ngày (2014) xuống 111 tấn/ngày (2015), chênh lệch -17 tấn/ngày; mẫu khảo sát 143 đáp viên.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong năm 2020 với tổng quy mô mẫu đạt 578 hộ gia đình đô thị.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu định giá phi thị trường và quản lý chất thải rắn

Định giá hàng hóa môi trường phi thị trường bằng phương pháp phát biểu sở thích (Stated Preference) được khởi xướng từ nghiên cứu của Ciriacy-Wantrup (1947) và Davis (1963). Trải qua các giai đoạn tranh luận học thuật (Scott, 1965; Bishop và Heberlein, 1979), phương pháp CVM đã được chuẩn hóa bởi hội đồng chuyên gia NOAA (Arrow và cộng sự, 1993) và xác nhận tính hợp lệ bởi Hausman (1993). Phương pháp CM sau đó được phát triển mạnh mẽ dựa trên nền tảng lý thuyết của Lancaster (1966) và McFadden (1974), ứng dụng ban đầu trong kinh tế môi trường bởi Adamowicz và cộng sự (1994, 1998).

Trong lĩnh vực quản lý CTR, các công trình quốc tế áp dụng phương pháp phát biểu sở thích tập trung vào hai nhánh chính:

  1. Ứng dụng phương pháp CVM để đo lường WTP: Nghiên cứu tại các quốc gia đang phát triển như Altaf và Deshazo (1996) tại Pakistan; Yusuf và cộng sự (2007), Rahji và Oloruntoba (2009), Ezebilo (2013) tại Nigeria; Niringiye và Omortor (2010), Ojok và cộng sự (2013) tại Uganda; Hagos và cộng sự (2012) tại Ethiopia; Awunyo-Vitor và cộng sự (2013), Addai và Danso-Abbeam (2014), Boateng và cộng sự (2019) tại Ghana; Bhattarai (2015) tại Nepal; Chuen-Khee và Othman (2010), Afroz và Masud (2011), Zen và Siwar (2015) tại Malaysia; Vassanadumrongdee và Kittipongvises (2018) tại Thái Lan; Chung và Yeung (2019), Lu và cộng sự (2015) tại Trung Quốc.
  2. Ứng dụng phương pháp CM/CE để đánh giá các thuộc tính quản lý CTR: Nghiên cứu của Sakata (2007) và Ku và cộng sự (2009) tại Nhật Bản; Karousakis và Birol (2008) tại Anh; Czajkowski và cộng sự (2014) tại Ba Lan; Fukuda và cộng sự (2018), Tarfasa và Brouwer (2018), Massarutto và cộng sự (2019), Ko và cộng sự (2020) tại Hàn Quốc.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

  • Thiếu vắng nghiên cứu so sánh đồng thời CVM và CM: Mặc dù việc kết hợp hai phương pháp đã được thực hiện trong các lĩnh vực tài nguyên khác (Boxall và cộng sự, 1996; Hanley và cộng sự, 1998; Stevens và cộng sự, 2000; Lehtonen và cộng sự, 2003; Colombo và cộng sự, 2006; Christie và Azevedo, 2009; Gómez và cộng sự, 2014; Jin và cộng sự, 2018), trong lĩnh vực CTR chỉ có số ít nghiên cứu đối chiếu như Jin và cộng sự (2006) tại Macao và Ko và cộng sự (2020) tại Hàn Quốc. Tại Việt Nam, chưa có công trình nào thực hiện việc kết hợp và đối chiếu này.
  • Thiếu hụt nghiên cứu sử dụng thước đo WTA: Hầu hết các nghiên cứu quản lý CTR đều giả định người dân sẵn lòng trả thêm phí (WTP), bỏ qua chi phí cơ hội và sự bất tiện khi hộ gia đình phải tự phân loại rác tại nguồn. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc tiếp cận theo thước đo mức sẵn lòng chấp nhận (WTA), định lượng khoản bù đắp tài chính cần thiết để khuyến khích hộ gia đình thay đổi hành vi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Value - TEV): Luận án vận dụng khung phân loại giá trị của Turner và cộng sự (2003) và Pearce và cộng sự (2006), phân chia TEV của hàng hóa môi trường thành:
    • Giá trị sử dụng (Use Value): Bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị lựa chọn.
    • Giá trị phi sử dụng (Non-use Value): Bao gồm giá trị kế thừa, giá trị tồn tại và giá trị vị tha.
  • Kinh tế học phúc lợi và hàm chi tiêu Hicks: Đánh giá sự thay đổi phúc lợi xã hội dựa trên tiêu chuẩn Pareto cải tiến (tiêu chuẩn bù trừ). Phúc lợi cá nhân được đo lường thông qua giá trị bù đắp (Compensating Variation - CV) và giá trị tương đương (Equivalent Variation - EV) xuất phát từ hàm chi tiêu $e(p, Q, U)$: $$\text{CV} = e(p, Q_1, U_1) - e(p, Q_1, U_0)$$ $$\text{EV} = e(p, Q_0, U_1) - e(p, Q_0, U_0)$$ Khi chất lượng môi trường hoặc điều kiện thực hiện tạo ra sự suy giảm hữu dụng ban đầu ($\Delta U < 0$ do tốn công sức, thời gian phân loại rác), thước đo phúc lợi thích hợp là $\text{CV} = \text{WTA}$.
  • Lý thuyết đặc tính hàng hóa của Lancaster (1966) và Mô hình Hữu dụng Ngẫu nhiên (Random Utility Model - RUM): Người tiêu dùng không thu nhận thỏa dụng trực tiếp từ bản thân hàng hóa mà từ các thuộc tính cấu thành hàng hóa đó. Hàm hữu dụng của cá nhân $k$ đối với phương án lựa chọn $i$ được biểu diễn: $$U_{ik} = V_{ik}(a_i, z_k) + \varepsilon_{ik}$$ Trong đó $V_{ik}$ là thành phần hữu dụng tất định phụ thuộc vào véc-tơ thuộc tính $a_i$ và đặc điểm cá nhân $z_k$; $\varepsilon_{ik}$ là thành phần sai số ngẫu nhiên.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|               Định nghĩa giá trị kinh tế của chương trình làm giảm                |
|                    lượng chất thải rắn của hộ gia đình                            |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
                                          |
+-----------------------------------------v-----------------------------------------+
|     Ước tính mức sẵn lòng chấp nhận bù đắp (WTA) để thực hiện phân loại CTR       |
|                 tại nguồn của hộ gia đình ở ĐBSCL (N = 578)                       |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
                    |                                           |
+-------------------v--------------------+  +-------------------v-------------------+
|    Phương pháp định giá ngẫu nhiên     |  |       Phương pháp mô hình lựa chọn    |
|                (CVM)                   |  |                  (CM)                 |
+-------------------+--------------------+  +-------------------+-------------------+
| - Dạng câu hỏi phân đôi một giới hạn   |  | - Thí nghiệm lựa chọn (CE)            |
| - Mô hình kinh tế lượng Logit          |  | - Kiểm định IIA (Hausman & McFadden)  |
| - Ước lượng WTA trung bình và các yếu  |  | - Mô hình Logit tham số ngẫu nhiên    |
|   tố ảnh hưởng (học vấn, đô thị, v.v.) |  |   (RPL) và RPL có biến tương tác      |
+-------------------+--------------------+  +-------------------+-------------------+
                    |                                           |
+-------------------v-------------------------------------------v-------------------+
|             Đối chiếu kết quả ước lượng, thảo luận kịch bản chính sách,           |
|            và đề xuất giải pháp quản lý CTR của hộ gia đình ở ĐBSCL               |
+-----------------------------------------------------------------------------------+

Phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật phân tích

  • Phương pháp Định giá ngẫu nhiên (CVM): Áp dụng dạng câu hỏi lựa chọn phân đôi một giới hạn (Single-Bounded Dichotomous Choice). Đáp viên quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận tham gia chương trình phân loại tại nguồn ứng với một mức giá bù đắp ngẫu nhiên cho trước. Mô hình Logit được sử dụng để ước lượng xác suất chấp nhận và tính toán mức WTA trung bình theo phương pháp tham số (Hanemann, 1984).
  • Phương pháp Mô hình lựa chọn (CM): Xây dựng các tập lựa chọn từ các thuộc tính chính của chương trình:
    • Mức bù đắp tài chính cho trước (Bid).
    • Tỷ lệ làm giảm lượng CTR cần xử lý.
    • Tỷ lệ làm giảm lượng phát thải khí $\text{CO}_2$.
    • Số loại CTR được phân loại tại nguồn.
  • Kỹ thuật kinh tế lượng trong CM:
    • Kiểm định giả định tính độc lập của các lựa chọn thay thế không liên quan (IIA) bằng kiểm định Hausman và McFadden nhằm đánh giá sự phù hợp của mô hình Logit đa thức (MNL).
    • Sử dụng mô hình Logit tham số ngẫu nhiên (Random Parameters Logit - RPL) để khắc phục vi phạm IIA và kiểm soát tính không đồng nhất trong sở thích của đáp viên.
    • Sử dụng kiểm định Swait-Louviere để so sánh mức độ phù hợp giữa mô hình RPL cơ bản và mô hình RPL mở rộng có chứa các biến tương tác giữa thuộc tính chương trình với đặc điểm kinh tế - xã hội (thu nhập, giới tính, độ tuổi).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 1 thiết lập khung nghiên cứu tổng thể, luận giải tính cấp thiết về mặt lý thuyết và thực tiễn của đề tài trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh tại ĐBSCL. Tác giả xác định 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi không gian khảo sát tại 4 đô thị đại diện cho 3 cấp loại đô thị và 3 xu hướng xử lý rác thải đạt chuẩn, cùng khung thời gian khảo sát năm 2020. Chương này cũng phân tích đóng góp học thuật và cấu trúc 5 chương của luận án.

STT Tên thành phố Tỉnh / Thành phố trực thuộc Loại đô thị Lượng CTR xử lý đạt chuẩn 2014 (tấn/ngày) Lượng CTR xử lý đạt chuẩn 2015 (tấn/ngày) Chênh lệch (tấn/ngày) Số mẫu khảo sát (đáp viên)
1 Cần Thơ TP. Cần Thơ (TW) I 69 281 +212 169
2 Long Xuyên An Giang II 115 99 -16 146
3 Vĩnh Long Vĩnh Long III 82 82 0 120
4 Vị Thanh Hậu Giang III 128 111 -17 143
Tổng 578

Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 tổng hợp hệ thống lý thuyết nền tảng gồm kinh tế học phúc lợi, tổng giá trị kinh tế (TEV), lý thuyết người tiêu dùng, lý thuyết đặc tính Lancaster và mô hình hữu dụng ngẫu nhiên RUM. Tác giả tiến hành lược khảo toàn diện các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và quốc tế về định giá phi thị trường, làm rõ ưu điểm và hạn chế của từng phương pháp phát biểu sở thích (CVM và CM). Chương này biện giải chi tiết lý do lựa chọn thước đo WTA thay vì WTP, thiết kế quy trình điều tra chọn mẫu phân tầng 578 quan sát, xây dựng kịch bản định giá và chi tiết hóa các công cụ ước lượng kinh tế lượng (Logit, MNL, RPL, kiểm định IIA, kiểm định Swait-Louviere).

Chương 3: Giá trị kinh tế của chương trình làm giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình ở Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3 trình bày toàn bộ kết quả phân tích thực nghiệm của luận án, chia thành các nội dung trọng tâm:

  1. Thực trạng quản lý CTR và đặc điểm mẫu khảo sát: Phân tích hiện trạng phát sinh, thu gom, xử lý CTRSH tại ĐBSCL; mô tả các đặc trưng nhân khẩu học của 578 đáp viên (giới tính, độ tuổi, học vấn, thu nhập cá nhân và tổng thu nhập hộ gia đình); phân tích thói quen phân loại rác, bán phế liệu và nhận thức của người dân về hoạt động tái chế.
  2. Kết quả ước lượng bằng phương pháp CVM:
    • Mô hình Logit nhị phân xác định các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến quyết định chấp nhận tham gia chương trình phân loại tại nguồn gồm: mức sẵn lòng chấp nhận bù đắp (mức Bid cho trước), trình độ học vấn, loại đô thị đang sinh sống và hoạt động tái chế hiện tại của đáp viên.
    • Mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) trung bình của hộ gia đình tính toán theo phương pháp tham số đạt khoảng 30.000 đồng/tháng/hộ.
  3. Kết quả ước lượng bằng phương pháp CM:
    • Kết quả kiểm định giả định IIA của Hausman và McFadden bác bỏ giả định IIA của mô hình MNL, khẳng định mô hình Logit tham số ngẫu nhiên (RPL) là phù hợp hơn.
    • Kết quả kiểm định Swait-Louviere chỉ ra rằng mô hình RPL có các biến tương tác giữa thuộc tính chương trình và đặc điểm kinh tế - xã hội có độ phù hợp vượt trội so với mô hình RPL cơ bản.
    • Các thuộc tính chương trình ảnh hưởng có ý nghĩa đến xác suất lựa chọn gồm: mức bù đắp tài chính, mức độ giảm lượng CTR cần xử lý, mức độ giảm phát thải khí $\text{CO}_2$, và số lượng loại CTR được phân loại. Các biến tương tác nhân khẩu gồm thu nhập, giới tính và độ tuổi cũng tác động có ý nghĩa thống kê đến quyết định lựa chọn.
    • Mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) trung bình của hộ gia đình ước lượng từ mô hình CM đạt khoảng 79.000 đồng/tháng/hộ.
    • Luận án xây dựng và ước tính giá trị kinh tế của các kịch bản chính sách quản lý CTR khác nhau dựa trên sự kết hợp các mức độ thuộc tính.
+-----------------------------------------------------------------------------------+
|            So sánh kết quả định giá giá trị kinh tế giữa hai phương pháp          |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
| Phương pháp Định giá ngẫu nhiên (CVM)   | Mô hình Logit nhị phân                  |
| - Mức WTA trung bình ước lượng:         | ~ 30.000 đồng/tháng/hộ                  |
| - Yếu tố ảnh hưởng chính:               | Mức Bid, học vấn, loại đô thị, thói     |
|                                         | quen tái chế.                           |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+
| Phương pháp Mô hình lựa chọn (CM)       | Mô hình Logit tham số ngẫu nhiên (RPL)  |
| - Mức WTA trung bình ước lượng:         | ~ 79.000 đồng/tháng/hộ                  |
| - Yếu tố ảnh hưởng chính:               | Thuộc tính (mức bù đắp, giảm CTR xử lý, |
|                                         | giảm CO2, số nhóm phân loại) và tương   |
|                                         | tác (thu nhập, giới tính, độ tuổi).     |
+-----------------------------------------+-----------------------------------------+

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Chương 4 tổng hợp các phát hiện chính từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đối chiếu khoảng cách giá trị giữa CVM và CM, đề xuất hệ thống giải pháp chính sách khả thi nhằm giảm lượng CTR và nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt tại vùng ĐBSCL. Đồng thời, tác giả trình bày thẳng thắn các hạn chế của nghiên cứu và gợi ý các định hướng nghiên cứu tiếp theo.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và học thuật

  • Luận án là công trình tiên phong tại Việt Nam áp dụng đồng thời và đối chiếu thực nghiệm giữa hai phương pháp định giá phát biểu sở thích (CVM và CM) trong lĩnh vực quản lý CTR sinh hoạt.
  • Đóng góp vào hệ thống tài liệu kinh tế môi trường về việc sử dụng thước đo mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) thay cho WTP truyền thống để lượng hóa chi phí cơ hội và sự bất tiện của hộ gia đình khi thực hiện phân loại rác tại nguồn.
  • Bổ sung bằng chứng thực nghiệm quốc tế về việc mức phúc lợi ước lượng bằng phương pháp CM (79.000 đồng/tháng/hộ) có xu hướng cao hơn mức ước lượng bằng CVM (30.000 đồng/tháng/hộ) do phương pháp CM phân tách chi tiết từng thuộc tính cận biên của chương trình.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Cung cấp cơ sở định lượng cụ thể về mức đền bù tài chính và các thuộc tính môi trường mà người dân quan tâm khi tham gia các chương trình phân loại rác tại nguồn ở ĐBSCL.
  • Các giải pháp chính sách được đề xuất từ kết quả nghiên cứu:
    1. Triển khai thí điểm có trọng điểm: Thực hiện thí điểm chương trình phân loại rác tại nguồn ở những khu vực đô thị có hạ tầng đồng bộ và thuận tiện cho tất cả các khâu (từ thu gom, vận chuyển đến xử lý và tái chế tập trung).
    2. Định hướng đối tượng truyền thông: Ưu tiên công tác tuyên truyền, vận động hướng vào phụ nữ hoặc những người đảm nhận trách nhiệm chính về vệ sinh trong gia đình, do yếu tố giới tính và vai trò nội trợ có ảnh hưởng lớn đến quyết định tham gia.
    3. Thiết kế nội dung tuyên truyền và quy chuẩn phân loại: Nội dung truyền thông cần nhấn mạnh lợi ích giảm phát thải $\text{CO}_2$ và giảm áp lực xử lý rác; hướng dẫn phân loại đơn giản từ 2 đến 3 nhóm chất thải nhưng bắt buộc phải có riêng nhóm rác thải có thể tái chế để người dân dễ thực hiện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế được văn bản đề cập:
    • Quá trình thu thập dữ liệu sơ cấp diễn ra trong năm 2020 trùng với các đợt giãn cách xã hội để phòng chống dịch Covid-19, dẫn đến việc khảo sát thực địa gặp nhiều khó khăn và nhiều lần bị gián đoạn.
    • Phạm vi khảo sát mới tập trung vào đối tượng hộ gia đình tại khu vực đô thị (4 thành phố đại diện), chưa bao phủ toàn diện khu vực nông thôn của 13 tỉnh thành ĐBSCL.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi điều tra sang khu vực nông thôn nhằm phản ánh đầy đủ bức tranh quản lý CTR của toàn vùng ĐBSCL.
    • Khảo sát lặp lại khi điều kiện kinh tế - xã hội ổn định hoàn toàn sau đại dịch để kiểm chứng độ bền vững của các tham số ước lượng WTA theo thời gian.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:

  • Nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý môi trường: Cung cấp căn cứ thực nghiệm để Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND các tỉnh/thành phố vùng ĐBSCL xây dựng đề án phân loại rác tại nguồn theo Luật Bảo vệ Môi trường, thiết kế cơ chế hỗ trợ tài chính hoặc giá dịch vụ thu gom phù hợp với mức chấp nhận của người dân.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế tài nguyên và Môi trường: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận kết hợp CVM và CM, quy trình thiết kế thí nghiệm lựa chọn (Choice Experiment), xử lý các vi phạm kinh tế lượng (kiểm định IIA, Swait-Louviere) và ước lượng mô hình Logit tham số ngẫu nhiên (RPL).

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án lựa chọn thước đo mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) thay vì mức sẵn lòng chi trả (WTP)?

Theo cơ sở lý thuyết hàm chi tiêu Hicks, hoạt động phân loại chất thải tại nguồn đòi hỏi không gian, thời gian và công sức của hộ gia đình, gây ra sự sụt giảm hữu dụng ban đầu ($\Delta U < 0$). Đồng thời, quyền thực hiện hành vi phân loại được xem là tài sản môi trường thuộc về hộ gia đình. Do đó, thước đo phúc lợi bù đắp thích hợp theo lý thuyết kinh tế học phúc lợi là WTA (khoản bù đắp cần thiết để chấp nhận thực hiện hành vi), thay vì WTP.

2. Mức sẵn lòng chấp nhận (WTA) trung bình của hộ gia đình ở ĐBSCL được ước lượng là bao nhiêu?

  • Theo phương pháp Định giá ngẫu nhiên (CVM) với mô hình Logit nhị phân: Mức WTA trung bình ước lượng là khoảng 30.000 đồng/tháng/hộ.
  • Theo phương pháp Mô hình lựa chọn (CM) với mô hình Logit tham số ngẫu nhiên (RPL): Mức WTA trung bình ước lượng là khoảng 79.000 đồng/tháng/hộ.

3. Dữ liệu khảo sát của luận án được thu thập ở những địa bàn nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?

Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp từ 578 hộ gia đình đô thị trong năm 2020 tại 4 thành phố thuộc ĐBSCL:

  • Thành phố Cần Thơ (Đô thị loại I): 169 hộ.
  • Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (Đô thị loại II): 146 hộ.
  • Thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (Đô thị loại III): 120 hộ.
  • Thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang (Đô thị loại III): 143 hộ.

4. Kết quả kiểm định kinh tế lượng nào chứng minh mô hình Logit tham số ngẫu nhiên (RPL) phù hợp hơn mô hình Logit đa thức (MNL)?

Kiểm định IIA của Hausman và McFadden đã bác bỏ giả định về tính độc lập của các lựa chọn thay thế không liên quan (IIA) trong mô hình MNL, cho thấy mô hình MNL bị vi phạm giả định cơ bản. Do đó, việc chuyển sang sử dụng mô hình RPL là cần thiết. Tiếp đó, kiểm định Swait-Louviere xác nhận mô hình RPL có biến tương tác giữa thuộc tính chương trình và đặc điểm nhân khẩu học là mô hình có độ phù hợp cao nhất.

5. Những yếu tố nào ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến quyết định tham gia chương trình của hộ gia đình?

  • Trong mô hình CVM: Mức giá bù đắp cho trước, trình độ học vấn của đáp viên, loại đô thị sinh sống và thói quen thực hiện hoạt động tái chế hiện tại.
  • Trong mô hình CM: Các thuộc tính chương trình (mức bù đắp tài chính, tỷ lệ giảm CTR cần xử lý, tỷ lệ giảm phát thải khí $\text{CO}_2$, số nhóm CTR phân loại) cùng các biến tương tác đặc điểm cá nhân (mức thu nhập, giới tính và độ tuổi của đáp viên).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Đan Xuân đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu định giá kinh tế chương trình giảm lượng chất thải rắn của hộ gia đình tại Đồng bằng sông Cửu Long thông qua việc kết hợp hai phương pháp định giá phát biểu sở thích CVM và CM với thước đo WTA. Kết quả nghiên cứu xác định mức sẵn lòng chấp nhận bù đắp trung bình của hộ gia đình dao động từ 30.000 đồng/tháng/hộ (theo CVM) đến 79.000 đồng/tháng/hộ (theo CM), đồng thời chỉ ra các thuộc tính môi trường và đặc điểm nhân khẩu học có ảnh hưởng trọng yếu đến quyết định của người dân. Công trình đóng góp nền tảng phương pháp luận vững chắc và cung cấp luận cứ thực nghiệm giá trị phục vụ công tác hoạch định chính sách phân loại rác thải tại nguồn và nâng cao hiệu quả quản lý môi trường đô thị tại vùng ĐBSCL.