phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo an ninh con ngƣời Chƣơng 2: Thực trạng công tác bảo đảm an ninh con ngƣời cho lực lƣợng CSGT của huyện Đông Anh hiện nay Chƣơng 3: Giải pháp bảo đảm an ninh con ngƣời cho lực lƣợng CSGT huyện Đông Anh giai đoạn 2023 - 2028 7 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO AN NINH CON NGƢỜI 1. Khái niệm về an ninh phi truyền thống và quản trị an ninh phi truyền thống 1. Khái niệm an ninh ―An ninh‖ trong tiếng Anh đƣợc hiểu là mức độ an toàn cao nhất cho chủ thể.
Tại các nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau thì an ninh và an toàn đƣợc dùng chung một từ an toàn, bình an. Nhƣ vậy, có thể hiểu ―An ninh là sự tồn tại, an toàn, bình an, không có nỗi lo, rủi ro, mối nguy, sự cố hay tổn thất về ngƣời và của‖. Theo Bellamy (1981), an ninh là sự tự do tƣơng đối không lo có chiến tranh kết hợp với mong đợi tƣơng đối cao là không bị đánh bại bởi bất kỳ cuộc chiến tranh nào có thể xảy ra. Lịch sử đã cho thấy con ngƣời không thể có cuộc sống ổn định và phá triển bền vững nếu nhƣ không có an ninh và một quốc gia cũng không thể phát triển bền vững nếu không đảm bảo đƣợc an ninh cho con ngƣời và doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực đời sống, sản xuất và kinh doanh.
Cùng với sự phát triển của lịch sử và nhân loại, bên cạnh khái niệm an ninh đã hình thành nên khái niệm an ninh truyền thống. Theo Luật An ninh quốc gia của Việt Nam (2014) thì an ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nƣớc CHXHCNVN, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Nhƣ vậy, có thể hiểu ―An ninh truyền thống theo quan điểm truyền thống là sự tồn tại và phát triển ổn định của một quốc gia trên các lĩnh vực: an ninh chính trị, an ninh quân sự, an ninh kinh tế, an ninh văn hóa tƣ tƣởng‖. Khái niệm an ninh phi truyền thống Cùng với sự thay đổi và phát triển của lịch sử nhân loại, thế giới trở nên phẳng hơn và bƣớc vào giai đoạn hội nhập nhanh với sự gia tăng dân số toàn cầu, sự phát triển của các công nghệ mới, cũng nhƣ những sự thay đổi về truyền thông, quan điểm, tƣ tƣởng, thƣơng mại, du lịch, văn hóa.
Thế giới đang phải đối mặt với các nguy cơ lớn về biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… trong khi vẫn phải đối phó với các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội. Tất cả các yếu tố trên đã hình thành 8 nên khái niệm ANPTT, lần đầu tiên đƣợc đề cập trong báo cáo ―Phát triển con ngƣời‖ năm 1944 của UNDP. Theo đó, ANPTT đƣợc hiểu là sự an toàn, ổn định và phát triển bền vững cá nhân, con ngƣời, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài ngƣời trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập, biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu. ANPTT đề cập đến 7 thành tố là: (i) An ninh kinh tế trƣớc mối đe dọa nghèo khổ; (ii) An ninh lƣơng thực trƣớc đe dọa đói kém; (iii) An ninh sức khỏe trƣớc đe dọa thƣơng tích và bệnh tật; (iv) An ninh môi trƣờng trƣớc đe dọa ô nhiễm, xuống cấp môi trƣờng và cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên; (v) An ninh cá nhân, bảo vệ trƣớc các hình thức bạo hành khác nhau; (vi) An ninh cộng đồng, bảo vệ sự toàn vẹn văn hóa; (vii) An ninh chính trị, bảo vệ trƣớc sự bị trấn áp chính trị.
Trong đó, các mối đe dọa từ ANPTT đƣợc hiểu là các vấn đề an ninh mới xuất hiện và có khả năng tác động tiêu cực tới sự an toàn, tồn tại, ổn định và phát triển bền vững của cá nhân, con ngƣời, doanh nghiệp, cộng đồng, quốc gia và cả loài ngƣời trong bối cảnh biến đổi toàn cầu và biến đổi khí hậu. ANPTT đƣợc hiểu trên 4 cấp độ: - ANPTT ở cấp độ quốc tế; - ANPTT ở cấp độ Nhà nƣớc (quốc gia, địa phƣơng); - ANPTT ở cấp độ cộng đồng (con ngƣời); - ANPTT ở cấp độ doanh nghiệp (chủ DN và đông đảo ngƣời lao động); Bảng 1.1 So sánh sự khác biệt giữa ANTT và ANPTT STT Nội ANTT ANPTT Điểm Điểm mới dung chung 1 Khái Là an ninh quốc Là an ninh nhà Mối quan Khái niệm niệm gia. Cách tiếp nƣớc, an ninh hệ biện mới ra đời cơ cận lấy nhà nƣớc doanh nghiệp và chứng khi hội bản làm trung tâm ANCN. Các tiếp nhập toàn cận lấy con ngƣời cầu làm trung tâm 2 Mục Ổn định và Ổn định và PTBV Mối quan Phát triển 9 tiêu PTBV của nhà của nhà nƣớc, con hệ biện theo xu thế chính nƣớc, chế độ, độc ngƣời (cộng đồng) chứng hội nhập lập, chủ quyền, và doanh nghiệp toàn cầu thống nhất, lãnh thổ 3 Chủ Nhà nƣớc - Nhà nƣớc Mối quan Đổi mới thể - Con ngƣời/Cộng hệ biện nhận thức chính đồng chứng - Doanh nghiệp 4 Công - Quân đội -Sức mạnh và Mối quan Thay đổi cụ - Công an nguồn lực Nhà hệ biện nhận thức.
chính - Dân quân tự vệ nƣớc. chứng Phải chủ - Sức mạnh, nguồn động lực cộng đồng. - Sức mạnh và nguồn lực doanh nghiệp 5 Tác Sự tồn tại của - Quốc tế (An ninh Mối quan Tác động động Đảng cầm quyền mạng…) hệ biện đa chiều, đa trực và thể chế nhà - Khu vực (Đói, chứng mức độ, đa tiếp nƣớc do Đảng dịch bệnh…) cấp độ, đa cầm quyền quyết - Nhà nƣớc lĩnh vực, định - Con ngƣời/cộng xuyên biên đồng giới - Doanh nghiệp Nguồn: Nguyễn Văn Hƣởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi (2015) Tóm lại, cùng với quá trình vận động và phát triển lịch sử kinh tế, chính trị và xã hội thì nội hàm khái niệm an ninh đã có sự thay đổi. Theo đó, việc đảm bảo an ninh Nhà Nƣớc phải gắn với công tác đảm bảo an ninh cho con ngƣời, cộng đồng và doanh nghiệp.
Đồng thời, phải có cách tiếp cận lấy con ngƣời làm trung tâm. 10 Chính vì vậy, việc đảm bảo ANCN cũng chính là góp phần vào đảm bảo an ninh Nhà nƣớc và an ninh doanh nghiệp hay nói rộng ra là đảm bảo ANPTT trong bối cảnh mới hiện nay 1. Quản trị an ninh phi truyền thống Trong khoa học lý luận hiện nay, phƣơng trình quản trị ANPTT (gọi tắt là phƣơng trình MNS hay 3S-3C) đang đƣợc nghiên cứu, ứng dụng ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau dù trong quản trị doanh nghiệp hay trong cơ quan nhà nƣớc nhằm mục đích quản trị có hiệu lực, hiệu quả, đảm bảo an toàn, phát triển bền vững cho các thể nhân, pháp nhân, trong đó có cả pháp nhân công quyền (Nguyễn Văn Hƣởng, Bùi Văn Nam, Hoàng Đình Phi, 2015). Quản trị ANPTT (QTANPTT) = (An toàn + Ổn định + Bền vững) - (Chi phí cho tất cả các hoạt động quản trị rủi ro + Chi phí cho tất cả các hoạt động quản trị khủng hoảng + Chi phí cho tất cả hoạt động khắc phục khủng hoảng).
Trong đó: MNS = an ninh của chủ thể S1 = an toàn của chủ thể S2 = ổn định của chủ thể S3 = Phát triển bền vững của chủ thể Cl= Chi phí quản trị rủi ro C2= Chi phí hậu quả của khủng hoàng C3= Chi phí khắc phục hậu quả Tùy theo mục đích sử dụng trong công tác quản trị ANPTT, phƣơng trình 3S - 3C cũng có thể đƣợc nhà nghiên cứu hay quản trị lựa chọn sử dụng ở dạng rút gọn các yếu tố cho đơn giản hơn nhƣ: S = S1 - C1 hay S = (S1 + S2) - (C1 + C2). Phƣơng trình 3S - 3C thƣờng đƣợc dùng kết hợp với phƣơng pháp chuyên gia hay 11 brainstorming để thiết kế các câu hỏi, tổng hợp dữ liệu và đánh giá kết quả công tác quản trị ANPTT của một chủ thể trong một khoảng thời gian cụ thể là 1 năm hay vài năm đã qua, từ đó tìm ra nguyên nhân vả bài học kinh nghiệm. Phƣơng trình nảy cũng đƣợc dùng đề thiết kế các nghiên cứu, tìm kiếm đữ liệu và dự báo về các rủi ro và khủng hoảng trong một giai đoạn tƣơng lai (5- 10 năm tới), góp phần thiết kế các chiến lƣợc ứng phó với các rủi ro và mối nguy đe đọa ANPTT trong một số ngành, lĩnh vực. Việc vận dụng kiến thức và phƣơng trình quản trị ANPTT để quản trị và phát triển bền vững.
MNS = (5 + 5 + 5) - (5 + 0 + 0) = 10 (điểm) là một kết quả đƣợc các chủ thể quản lý hƣớng tới. C1 ở đây đƣợc hiểu lả tất cả các rủi ro liên quan đến đảm bảo an toàn của tất cả các hoạt động về tài chính, tài sản, con ngƣời. Khi C1 đƣợc kiểm soát tốt thì không có C2 và nếu có C2 thì cũng chỉ ở mức độ thấp. Dẫn chứng thí dụ sau: Để đảm bảo trật tự an toàn giao thông, Nhà nƣớc phải sử dụng nhiều lực lƣợng tham gia, trong đó, Lực lƣợng CSGT đóng vai trò quan trọng, là lực lƣợng chính thực thi công vụ trong đảm bảo an toàn giao thông.
Để có lực lƣợng cán bộ, chiến sĩ, nhất là cán bộ CSGT có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao đòi hỏi phải qua quá trình đào tạo với nguồn kinh phí lớn/học viên. Tuy nhiên, nếu sau khi ra trƣờng. trong quá trình thực thi công vụ, ANCN của lực lƣợng CSGT không bảo đảm (C1), tất yếu (C2) phải ở mức độ cao. Khái niệm về an ninh con ngƣời 1.
Khái niệm Trên thế giới, quan niệm về ANCN của UNDP và EU ra đời sớm và nhận đƣợc sự công nhận rộng rãi nhất. Theo UNDP (1984), ANCN theo nghĩa rộng hàm ý về một tình trạng ngƣời dân không bị đe dọa kinh niên nhƣ đói nghèo, bệnh tật, sự trấn áp và những tai nạn bất ngờ. Quan điểm này đƣợc xem là sự phát triển rộng về mặt nội hàm so với quan điểm theo nghĩa hẹp trƣớc đây, dừng lại ở an ninh lãnh thổ trƣớc sự xâm lƣợc từ bên ngoài, ở việc bảo vệ lợi ích dân tộc trong chính sách đối ngoại và ở an ninh tòa cầu trƣớc đe dọa hủy diệt hạt nhân. Nhiều học giả và nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng đƣa ra những quan điểm khác nhau về nội hàm khái niệm ANCN.