Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC CỦA NƯỚC TA 1.Chủ trương của Đảng, Nhà nước về cổ phần hóa; mục đích, ý nghĩa và sự cần thiết phải cổ phần hóa. Chủ trương CPH DNNN được thể hiện trong các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng và Thủ tướng Chính phủ: Nghị quyết hội nghị lần thứ III, Nghị quyết hội nghị lần thứ IX Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX; Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 30/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số 45-CT/TW ngày 22/10/2004 của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 04/2005/CT-TTg ngày 17/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Đặc biệt chủ trương này một lần nữa được nhấn mạnh trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X vừa qua. Mục tiêu của công tác cổ phần hóa được nêu rõ trong Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần, đó là: - Chuyển đổi những công ty nhà nước mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để tăng năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
- Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động trong doanh nghiệp. - Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng cổ phần hóa khép kín trong nội bộ doanh nghiệp; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán.Các chế độ, chính sách về công tác cổ phần hóa công ty nhà nước. Các văn bản pháp lý chủ yếu về cổ phần hóa gồm: - Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc 6 chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần. - Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP.
- Thông tư số 95/2006/TT-BTC ngày 12/10/2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần. - Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ về cơ sở đối với lao động dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước. - Các thông tư, văn bản hướng dẫn của Bộ Lao động, thương binh và xã hội; Bộ Công nghiệp hướng dẫn thực hiện. Theo các văn bản trên, quy trình cổ phần hóa bao gồm các công việc tóm tắt như sau: Bước 1.
Xây dựng Phương án cổ phần hoá. - Thành lập Ban Chỉ đạo cổ phần hoá và tổ giúp việc. - Chuẩn bị hồ sơ tài liệu: - Kiểm kê, xử lý những vấn đề về tài chính và tổ chức xác định giá trị doanh nghiệp: - Hoàn tất Phương án cổ phần hoá: Bước 2. Tổ chức bán cổ phần.
- Ban chỉ đạo cổ phần hoá lựa chọn phương thức bán cổ phần theo quy định. - Tổ chức bán cổ phần: - Tổng hợp kết quả bán cổ phần báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá. - Báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá ra quyết định điều chỉnh quy mô, cơ cấu cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá đối với trường hợp không 7 bán cổ phần cho các đối tượng theo đúng phương án cổ phần hoá được duyệt. Hoàn tất việc chuyển doanh nghiệp thành công ty cổ phần.
- Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất. - Căn cứ vào kết quả Đại Hội đồng cổ đông lần thứ nhất, Hội đồng quản trị công ty cổ phần thực hiện đăng ký kinh doanh, nộp con dấu của doanh nghiệp cũ và xin khắc dấu của công ty cổ phần. - Lập báo cáo tài chính tại thời điểm công ty cổ phần được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần đầu, thực hiện quyết toán thuế, quyết toán chi phí cổ phần hoá, báo cáo cơ quan quyết định cổ phần hoá. - Nộp tiền thu từ cổ phần hoá về công ty, Tổng công ty hoặc Quỹ hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại Bộ Tài chính.
- Công ty cổ phần mua hoặc in tờ cổ phiếu cấp cho các cổ đông theo quy định hiện hành. - Tổ chức ra mắt công ty cổ phần và thực hiện bố cáo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định. Trường hợp doanh nghiệp xác định sẽ thực hiện niêm yết ngay trên thị trường chứng khoán thì lập bộ hồ sơ xin cấp phép niêm yết gửi Bộ Tài chính (Uỷ ban chứng khoán Nhà nước) theo quy định hiện hành. - Tổ chức bàn giao giữa doanh nghiệp và công ty cổ phần.
Trong quá trình thực hiện, cơ quan quyết định cổ phần hoá, Ban Chỉ đạo cổ phần hoá, Tổ giúp việc và doanh nghiệp có thể tiến hành đồng thời nhiều bước một lúc để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá công ty nhà nước. Công tác cổ phần hóa công ty nhà nước của nước ta trong thời gian qua. Tình hình thực hiện. Cổ phần hoá DNNN ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện vào năm 1992 và được đánh giá là một giải pháp quan trọng để sắp xếp, đổi mới, phát triển và 8 nâng cao hiệu quả DNNN.
Quá trình thực hiện CPH DNNN ở Việt Nam là một quá trình khó khăn, phức tạp với nhiều thử nghiệm, tìm tòi và ứng dụng từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới để lựa chọn phương thức phù hợp với những đặc tính riêng có của hệ thống DNNN ở Việt Nam - một đất nước đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Hệ thống cơ chế chính sách về CPH DNNN cũng không ngừng được hoàn thiện để tạo cơ sở thúc đẩy tiến trình CPH. Do đó, trong hơn 10 năm qua, hoạt động CPH DNNN ở Việt Nam cũng đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Tính đến thời điểm 31/12/2004 cả nước đã thực hiện CPH được 2.
Với tổng số vốn của các DN CPH lên tới 17.700 tỷ đồng, bằng 8.2% toàn bộ vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước (214. Trong đó: - Số doanh nghiệp có vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng là 1.327 doanh nghiệp chiếm 59,2%, tập trung ở các ngành thi công xây lắp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, thương mại dịch vụ, chế biến nông phẩm do các địa phương quản lý. - Số doanh nghiệp có vốn nhà nước từ 5 - 10 tỷ đồng là 500 doanh nghiệp, chiếm 22,3%. - Số doanh nghiệp có vốn nhà nước trên 10 tỷ đồng chỉ có 415 doanh nghiệp, chiếm 18,5%.
Nghị quyết Trung ương IX đã có chủ trương mở rộng quy mô và diện doanh nghiệp cổ phần hóa nên thực tế đã triển khai cổ phần hóa một số doanh nghiệp quy mô lớn, có giá trị doanh nghiệp và giá trị vốn nhà nước lên tới hàng ngàn tỷ đồng như Công ty Sữa Việt Nam (giá trị doanh nghiệp 2.500 tỷ đồng, vốn nhà nước 1.500 tỷ đồng), nhà máy Thuỷ điện Vĩnh Sơn - Sông Hinh (giá trị doanh nghiệp 2.114 tỷ đồng, vốn nhà nước 1. Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, đến hết tháng 12/2005 cả nước đã CPH được 2. Tuy số lượng DNNN đư- 9 ợc CPH trong năm 2005 không phải là cao nhất từ trước đến nay song điều quan tâm là năm 2005 đã có những DNNN quy mô vừa và lớn, hoạt động trong các ngành vốn được coi là “nhạy cảm” như điện lực, dầu khí… thực hiện CPH như: Công ty khoan và dịch vụ dầu khí, Công ty Dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí, Công ty thiết kế và xây dựng dầu khí; các nhà máy điện: Vĩnh sơn – Sông Hinh, Thác Bà, Phả Lại; Công ty vận tải Xăng dầu đường thủy I; Công ty Giấy Tân Mai; Công ty Kim khí TP HCM…. Theo số liệu của Bộ Tài chính, trong 6 tháng đầu năm 2006, cả nước mới chuyển đổi sở hữu được 130 DN, bằng 14% so với kế hoạch trong đó CPH được 110 DN và bộ phận DN (tính cả 40 đơn vị chưa chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, nhưng đã hoàn thành việc xác định giá trị doanh nghiệp).
Dự kiến đến hết năm 2006, cả nước sẽ có khoảng 3.500 DN được CPH. Như vậy tiến trình cổ phần hóa sau thời gian tăng tốc (đặc biệt tháng 12 năm 2005 có tới 230 DN nhận quyết định CPH), đã bắt đầu giảm tốc khá mạnh. Đối với Bộ Công nghiệp, trong thời gian từ 1994 đến nay, Bộ Công nghiệp đã CPH 326 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp (gọi chung là doanh nghiệp), riêng 3 năm (2003 – 2005) đã CPH được 281 doanh nghiệp, trong đó có 222 doanh nghiệp độc lập. Tổng giá trị vốn Nhà nước đã đưa vào cổ phần là 14.496 tỷ đồng, chiếm 12,65% tổng vốn Nhà nước của các doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp quản lý (kể cả dầu khí).
Điều đáng ghi nhận là trong quá trình định giá, đã định giá tăng lên được 4.691 tỷ đồng (chiếm 47,85%) và trong quá trình CPH, đã xử lý lỗ (tài chính) cho 57 doanh nghiệp, với 496 tỷ đồng, xử lý nợ xấu cho 85 doanh nghiệp, với số vốn khoảng 67 tỷ đồng. Như vậy là trước Nghị quyết TW 3, Bộ Công nghiệp có 345 DNNN, thì đến ngày 31/12/2005 còn 123 doanh nghiệp, trong đó 50 doanh nghiệp đã chuyển sang công ty TNHH 1 thành viên. Với kết quả đã đạt được, công tác CPH DNNN của Bộ Công nghiệp đã vượt kế hoạch gần 40%. Đánh giá kết quả đạt được.
Quá trình cổ phần hoá DNNN đến nay đã thực hiện được 13 năm kể từ 10 khi có QĐ 202/CT ngày 08/6/1992 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện thí điểm cổ phần hoá. Trải qua 5 năm tiến hành thí điểm, từ năm 1996 quá trình cổ phần hóa được mở rộng thực hiện trong cả nước. Kết quả sắp xếp DNNN trong 13 năm qua thu được như sau : - Cổ phần hóa được triển khai đúng định hướng, từng bước vững chắc: Từ năm 1992 đến nay, trong phạm vi cả nước đã cổ phần hóa được trên 3.000 doanh nghiệp nhà nước và bộ phận doanh nghiệp nhà nước.