Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với những thách thức nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu và hiện tượng nước biển dâng, trong đó tỉnh Bến Tre là một trong những địa phương chịu tổn thương nặng nề nhất. Với tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt từ 9,1% đến 9,5%/năm và thu nhập bình quân đầu người đạt 48,6 triệu đồng vào năm 2020, nhu cầu về hạ tầng cấp nước phục vụ công nghiệp và đô thị hóa tại Bến Tre đang tăng trưởng nhanh chóng. Tuy nhiên, tổng công suất cấp nước sạch toàn tỉnh chỉ đạt khoảng 65.000 m3/ngày đối với hệ thống đô thị và khoảng 200.000 m3/ngày khi tính toàn bộ 68 trạm cấp nước phân tán. Mức tiêu chuẩn cấp nước thực tế ở khu vực nông thôn mới chỉ đạt khoảng 40 lít/người/ngày, đi kèm với tỷ lệ thất thoát nước sạch trên toàn mạng lưới vượt mức 28%.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng hạn mặn lịch sử các năm 2016 và 2019 - 2020, khi 100% các nhà máy nước mặt trên địa bàn tỉnh đều bị nhiễm mặn nghiêm trọng, làm gián đoạn sinh hoạt của hơn 870.000 người dân. Đề tài hướng tới mục tiêu đánh giá toàn diện nguy cơ rủi ro cấp nước, phân tích trữ lượng - chất lượng nguồn nước và ứng dụng mô hình toán thủy lực để xây dựng phương án cấp nước an toàn bền vững cho khu vực phía Bắc sông Hàm Luông giai đoạn 2020 - 2030, bao gồm địa bàn thành phố Bến Tre và 4 huyện: Châu Thành, Giồng Trôm, Bình Đại, Ba Tri với tổng diện tích tự nhiên hơn 1.400 km2. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa chiến lược, cung cấp căn cứ khoa học chuẩn xác để nâng tỷ lệ dân cư đô thị được cấp nước sạch đạt 95% - 100% với tiêu chuẩn 120 - 150 lít/người/ngày, đồng thời nâng tỷ lệ cấp nước sạch nông thôn đạt quy chuẩn Bộ Y tế từ mức 36,0% hiện nay lên trên 70% vào năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết Quản lý rủi ro và Kế hoạch cấp nước an toàn (Water Safety Plan - WSP) do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến nghị và được thể chế hóa tại Việt Nam qua Thông tư số 08/2012/TT-BXD cùng Quyết định số 1566/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp cận cấp nước an toàn bao gồm việc thiết lập hệ thống kiểm soát đa rào cản từ lưu vực nguồn nước thô, quy trình công nghệ xử lý tại nhà máy, đến hệ thống mạng lưới đường ống truyền dẫn và phân phối. Bên cạnh đó, đề tài ứng dụng lý thuyết thủy lực dòng chảy áp lực trong mạng lưới đường ống kín dựa trên các phương trình bảo toàn lưu lượng và tổn thất áp lực Hazen-Williams và Darcy-Weisbach.

Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Cấp nước an toàn (cung cấp liên tục, đủ áp lực, đủ lưu lượng và đạt chuẩn QCVN 01:2009/BYT); Phân vùng quản lý áp lực và lưu lượng (District Metered Area - DMA); Xâm nhập mặn cực hạn (nồng độ mặn vượt ngưỡng 0,25‰ và 1,00‰ tại công trình thu); Tỷ lệ thất thoát nước không doanh thu (NRW).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm: chuỗi số liệu khí tượng - thủy văn và độ mặn giai đoạn 2001 - 2020 của Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Bến Tre; số liệu khảo sát hiện trạng 68 nhà máy và trạm cấp nước; tài liệu quan trắc địa chất thủy văn của Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra Tài nguyên nước Miền Nam về 8 tầng chứa nước ngầm (Holocen, Pleistocen trên, Pleistocen giữa-trên, Pleistocen dưới, Pliocen giữa, Pliocen dưới, Miocen trên và Miocen giữa-trên).

Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm 100% các công trình cấp nước tập trung trên địa bàn 5 đơn vị hành chính phía Bắc sông Hàm Luông, kết hợp khảo sát chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên đối với 500 hộ dân tại các vùng sinh thái ngọt, lợ và mặn ven biển. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho các hình thái dùng nước mặt, nước ngầm tầng nông và nước mưa.

Nghiên cứu sử dụng phần mềm mô phỏng thủy lực chuyên dụng EPANET do Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA) phát triển. Lý do lựa chọn EPANET là nhờ khả năng tính toán thủy lực cân bằng nút và mạng lưới vòng chính xác cao trong các chế độ dùng nước thay đổi theo giờ (hệ số giờ dùng nước cao điểm từ 1,3 đến 1,5), tương thích tốt với dữ liệu GIS và tối ưu hóa chi phí đầu tư tuyến ống. Tiến trình nghiên cứu được triển khai thực hiện từ năm 2020 đến năm 2021 với tầm nhìn quy hoạch hạ tầng đồng bộ đến năm 2030.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra sự thiếu hụt công suất nghiêm trọng và mất cân đối nguồn nước. Toàn vùng nghiên cứu hiện có 68 công trình cấp nước nhưng phân bố phân tán và manh mún. Riêng huyện Châu Thành có 14 công trình với tổng công suất thiết kế 1.045 m3/giờ nhưng công suất khai thác thực tế chỉ đạt 795 m3/giờ (đạt 76,0% công suất thiết kế). Nguồn nước ngầm tại khu vực có dấu hiệu suy giảm mực nước tĩnh liên tục từ 0,19m đến hơn 2,0m/năm, đặc biệt tầng Pliocen dưới ở độ sâu 258 - 305m dù có chất lượng tốt nhưng lưu lượng khai thác rất hạn chế và có nguy cơ lợ hóa cao nếu khai thác quá mức.

Thứ hai, mạng lưới đường ống phân phối bộc lộ nhiều điểm nghẽn kỹ thuật và tỷ lệ thất thoát cao. Tỷ lệ thất thoát nước sạch toàn vùng bình quân ở mức trên 28%, một số khu vực nông thôn lên tới 35%. Áp lực cuối mạng tại các xã ven biển huyện Bình Đại và Ba Tri trong các giờ dùng nước cao điểm thường xuyên rơi vào tình trạng áp lực âm hoặc dưới 0,2 bar (tiêu chuẩn yêu cầu tối thiểu 1,0 bar), dẫn tới nguy cơ tái ô nhiễm ngược vào đường ống.

Thứ ba, tác động của xâm nhập mặn ngày càng lấn sâu vào nội đồng. Ranh mặn 4‰ trên sông Cửa Đại và sông Hàm Luông trong mùa khô đã xâm nhập sâu từ 45 đến 65 km tính từ cửa biển, bao trùm hầu hết các vị trí lấy nước thô hiện hữu của thành phố Bến Tre và huyện Giồng Trôm. Nước ngọt cục bộ chỉ còn duy trì ổn định quanh năm tại khu vực thượng nguồn thuộc huyện Chợ Lách và một phần phía Tây huyện Châu Thành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng mất an toàn cấp nước bắt nguồn từ đặc thù địa hình trũng thấp (cao độ trung bình 1,5 - 2,0m) và sự phụ thuộc hoàn toàn vào lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về sông Tiền. Khi dòng chảy thượng lưu suy giảm từ 20% đến 35% trong mùa khô, triều cường Biển Đông đẩy mặn vào sâu các kênh rạch nội đồng. Mô hình quản lý còn phân tán giữa Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Bến Tre (quản lý đô thị) và Trung tâm Nước sạch & VSMT nông thôn (quản lý 62 trạm cấp nước) dẫn tới sự chồng chéo và thiếu tính liên kết mạng.

So sánh với các mô hình cấp nước tiên tiến tại Công ty Cấp nước Hải Dương (giảm thất thoát từ 26% xuống 11%, điện năng tiêu thụ giảm từ 0,45 kWh/m3 xuống 0,27 kWh/m3) hay Tổng công ty Cấp nước Sài Gòn (Sawaco), việc ứng dụng hệ thống điều khiển tự động SCADA kết hợp mô phỏng thủy lực đóng vai trò quyết định.

Trên cơ sở tính toán mô hình EPANET cho 2 phương án (Phương án 1: Cấp nước phân tán cục bộ và Phương án 2: Hệ thống liên vùng tập trung nguồn nước thô thượng nguồn), kết quả mô phỏng thủy lực giờ dùng nước cao điểm cho thấy Phương án 2 vượt trội hoàn toàn. Dữ liệu tính toán trên mạng lưới đường ống truyền dẫn cấp 1 (đường kính D300 - D800) được thể hiện rõ nét qua bảng cân đối thủy lực và bản đồ phân chia 05 phân vùng DMA. Vận tốc dòng chảy trong ống được kiểm soát tối ưu trong dải 0,8 - 1,5 m/s, áp lực nút tại tất cả các điểm bất lợi nhất ở huyện Bình Đại và Ba Tri đều duy trì ổn định từ 1,2 đến 1,8 bar.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng thủy lực và phân tích nguy cơ hạn mặn, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật - quản lý mang tính đột phá cho khu vực phía Bắc sông Hàm Luông giai đoạn 2020 - 2030:

Thứ nhất, xây dựng hệ thống thu gom và truyền dẫn nước thô tập trung từ thượng nguồn ngọt hóa. Tiến hành xây dựng tuyến ống truyền dẫn nước thô liên huyện (đường kính D600 - D1000) lấy nước từ khu vực sông Tiền thuộc huyện Châu Thành và Chợ Lách để tiếp dẫn nước ngọt về các nhà máy nước lớn tại TP. Bến Tre, Giồng Trôm, Ba Tri và Bình Đại. Mục tiêu bảo đảm cung cấp đủ 180.000 - 220.000 m3/ngày nước thô không nhiễm mặn trong suốt mùa khô, hoàn thành giai đoạn 1 vào năm 2025. Chủ thể thực hiện: Ban Quản lý Dự án Đầu tư Xây dựng các Công trình Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bến Tre phối hợp với Công ty Cổ phần Cấp thoát nước Bến Tre.

Thứ hai, tái cấu trúc mạng lưới phân phối và phân vùng cấp nước thành 05 tiểu vùng DMA kỹ thuật số. Thiết lập các trạm đo lưu lượng điện từ và cảm biến áp lực kết nối trực tuyến qua hệ thống SCADA tại các ranh giới cấp nước giữa TP. Bến Tre, Châu Thành, Giồng Trôm, Bình Đại và Ba Tri. Mục tiêu cụ thể là kiểm soát áp lực mạng lưới từ 1,5 - 2,5 bar và giảm tỷ lệ thất thoát nước không doanh thu từ mức trên 28% hiện nay xuống dưới 18% vào năm 2025 và dưới 15% vào năm 2030. Chủ thể thực hiện: Doanh nghiệp khai thác và vận hành mạng lưới cấp nước.

Thứ ba, hiện đại hóa công nghệ xử lý và bổ sung giải pháp xử lý mặn khẩn cấp. Nâng cấp các nhà máy nước hiện hữu sang công nghệ lắng lamen kết hợp keo tụ PAC tự động và hệ thống lọc cát nhanh hai lớp. Tại các trạm cấp nước trọng điểm ven biển, lắp đặt các modul thẩm thấu ngược (RO) công suất từ 1.000 - 3.000 m3/ngày để xử lý nguồn nước nhiễm mặn nhẹ trong các tình huống khẩn cấp, bảo đảm chất lượng nước thành phẩm đạt chuẩn QCVN 01-1:2018/BYT. Timeline triển khai: Giai đoạn 2021 - 2026. Chủ thể: Các đơn vị quản lý trạm cấp nước nông thôn và đô thị.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế quản lý tài nguyên nước và đào tạo nhân lực. Thực hiện nghiêm Quyết định số 39/2019/QĐ-UBND về quản lý hoạt động cấp nước trên địa bàn tỉnh; kiểm soát chặt chẽ việc khoan khai thác nước ngầm tầng sâu; xây dựng quy chế phối hợp vận hành điều tiết các cống thủy lợi ngăn mặn (như cống Ba Lai, cống rạch Bến Tre). Đào tạo chuyên sâu đội ngũ kỹ sư vận hành về phân tích thủy lực số hóa và ứng phó sự cố cấp nước trước năm 2024. Chủ thể: Sở Xây dựng phối hợp Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bến Tre.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bến Tre và các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Luận văn cung cấp khung dữ liệu thực nghiệm và luận cứ kỹ thuật chuẩn xác để phê duyệt, điều chỉnh đồ án quy hoạch cấp nước vùng và xây dựng kế hoạch ứng phó biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030.

Thứ hai, các doanh nghiệp cấp nước và các đơn vị tư vấn thiết kế hạ tầng kỹ thuật cấp thoát nước. Đây là tài liệu tham khảo thực chiến về quy trình mô phỏng thủy lực bằng EPANET, các thông số thiết kế tuyến ống truyền dẫn nước thô liên vùng và giải pháp phân vùng quản lý thất thoát nước DMA.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Kỹ thuật Cấp thoát nước, Kỹ thuật Tài nguyên nước và Kỹ thuật Môi trường. Luận văn là case study học thuật điển hình về giải quyết bài toán cấp nước thích ứng hạn mặn tại các vùng cửa sông ven biển.

Thứ tư, các tổ chức quốc tế và chuyên gia nghiên cứu về biến đổi khí hậu và phát triển bền vững tại Đồng bằng sông Cửu Long. Tài liệu cung cấp góc nhìn đa chiều về giải pháp công trình kết hợp phi công trình trong quản trị an ninh nguồn nước sạch.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao khu vực phía Bắc sông Hàm Luông cần giải pháp cấp nước liên vùng thay vì các trạm xử lý phân tán?

Mô hình phân tán với 68 trạm cấp nước nhỏ lẻ hiện nay bộc lộ nhược điểm lớn khi hạn mặn xảy ra, do 100% trạm lấy nước tại chỗ đều bị nhiễm mặn trên 1,0‰. Giải pháp liên vùng cho phép tập trung khai thác nguồn nước ngọt ổn định từ thượng lưu huyện Châu Thành và Chợ Lách, dẫn truyền qua mạng lưới đường ống cấp 1 đến các trạm phân phối, bảo đảm an toàn nguồn nước cho hơn 870.000 dân.

Phần mềm EPANET đóng vai trò then chốt như thế nào trong nghiên cứu này?

EPANET cho phép mô phỏng động thái thủy lực của hàng trăm nút và đoạn ống theo các khung giờ dùng nước cao điểm (hệ số từ 1,3 đến 1,5). Thông qua mô hình, nghiên cứu đã tính toán chính xác tổn thất áp lực, xác định đường kính ống tối ưu từ D300 đến D1000 và kiểm soát vận tốc dòng chảy trong ngưỡng an toàn từ 0,8 đến 1,5 m/s, tránh hiện tượng áp lực âm gây nhiễm bẩn đường ống.

Giải pháp nào giải quyết căn cơ bài toán xâm nhập mặn trong mùa khô tại Bến Tre?

Giải pháp căn cơ nhất là kết hợp công trình hồ trữ nước ngọt thô và hệ thống đường ống chuyển nước từ vùng thượng nguồn chưa bị nhiễm mặn, kết hợp vận hành đồng bộ hệ thống thủy lợi Bắc Bến Tre (cống Ba Lai). Đối với các khu vực biệt lập ven biển, ứng dụng công nghệ lọc màng RO công suất 1.000 - 3.000 m3/ngày là giải pháp bổ trợ tức thời trong các tháng đỉnh điểm hạn mặn.

Làm thế nào để giảm tỷ lệ thất thoát nước sạch từ trên 28% xuống dưới 15% vào năm 2030?

Nghiên cứu đề xuất phân chia mạng lưới thành 05 phân vùng DMA độc lập, lắp đặt đồng hồ đo lưu lượng điện từ đầu nguồn và cảm biến áp lực truyền dữ liệu SCADA theo thời gian thực. Việc giám sát liên tục giúp phát hiện điểm rò rỉ ngầm trong vòng 24 giờ, kết hợp bảo dưỡng định kỳ van xả khí và thay thế ống cũ mục nát.

Nguồn nước ngầm tại Bến Tre có thể khai thác quy mô lớn để thay thế nước mặt bị nhiễm mặn không?

Không thể khai thác quy mô lớn. Kết quả quan trắc địa chất thủy văn cho thấy 7 trong 8 tầng chứa nước ngầm tại Bến Tre chủ yếu là nước lợ và nước mặn. Tầng Pliocen dưới ở độ sâu 258 - 305m có nước ngọt nhưng trữ lượng hạn chế và mực nước tĩnh đang suy giảm liên tục từ 0,5 - 2,0m/năm. Khai thác quá mức sẽ gây sụt lún mặt đất và mặn hóa vĩnh viễn tầng chứa nước.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng cấp nước khu vực phía Bắc sông Hàm Luông, chỉ ra 3 nguy cơ cốt lõi: xâm nhập mặn diện rộng, tỷ lệ thất thoát nước sạch cao vượt mức 28% và hạ tầng cấp nước manh mún với 68 trạm phân tán.
  • Nghiên cứu đã phân tích chi tiết đặc điểm địa chất thủy văn của 8 tầng chứa nước ngầm, khẳng định nguồn nước mặt thượng lưu là nguồn cấp chủ đạo và duy nhất bảo đảm tính khả thi lâu dài.
  • Luận văn đã ứng dụng thành công phần mềm mô phỏng thủy lực EPANET, tối ưu hóa phương án quy hoạch mạng lưới truyền dẫn nước thô liên huyện và phân chia 05 phân vùng DMA kỹ thuật số với áp lực mạng lưới duy trì đạt từ 1,2 đến 1,8 bar.
  • Đề tài đã đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ về công trình, công nghệ xử lý và thể chế quản lý theo Quyết định số 39/2019/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bến Tre, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ cấp nước sạch nông thôn đạt quy chuẩn lên 70% vào năm 2030.
  • Các đơn vị quản lý nhà nước và doanh nghiệp cấp nước cần nhanh chóng lập dự án đầu tư xây dựng tuyến ống truyền dẫn nước ngọt thượng nguồn giai đoạn 2021 - 2025 nhằm chủ động bảo đảm an ninh nguồn nước sạch trước các diễn biến cực đoan của biến đổi khí hậu.