CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE QUA TRINH PHAT TRIEN VA THUC TRANG QUY HOACH, KIEN TRUC KHU CHUNG CU CU HA NOI KHÁI NIỆM KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH PHÁT TRIÊN THỰC TRẠNG QUY HOẠCH VÀ KHU CHƯNG CƯ CŨ HÀ NỘI KIÊN TRÚC CÁC KHU CHUNG CƯ CŨ HÀ NỘI = CHUONG2: CAC YEU TO TAC DONG DEN KHONG GIAN KIEN TRUC BO THI KHU CHUNG CƯ CŨ HÀ NỘI ĐẶC DIEM LOI SONG, THANH PHAN XA HOIVA LAO DONG TRONG GIAN KIEN THOI KY CHUYEN TRÚC ĐÔ TIEP KINH TE CUA THỊ KCCC CHƯƠNG3: GIẢI PHÁP TÔ CHỨC KHÔNG GIAN KIÊN TRÚC ĐÔ THỊ CẢI TẠO KHU CHUNG CƯ CŨ HÀ NỘI, ÁP DỤNG VỚI KCCC GIẢNG VÕ NGUYÊN GIẢI PHÁP QUY GIẢI PHÁP CẢI ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐÈ XUẤT VỀ CƠ TÁC HOẠCH TÔ CHỨC TẠO NHÀ Ở VÀ CẢI TẠO KGKTĐT CHÉ, CHÍNH SÁCH CHUNG KHÔNG GIAN CHO CÔNG TRÌNH KCCC GIẢNG VÕ, HÀ CẢI TẠO KGKTĐT CẢI TẠO KCCC HÀ CÔNG CỘNG NỘI CỦA KCCC NỘI +» KÉT LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ NOI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN VE QUA TRINH PHAT TRIEN VA THUC TRANG QUY HOACH, KIEN TRUC CUA KHU CHUNG CU CU HA NỘI 11 Khái niệm 1.1 Khu chung cư Khái niệm nhà chung cư được nhắc đến lần đầu tiên trong Luật Nhà ở 2005 (điều 70), trước đó nhà chung cư được gọi là nhà tập thể. Khu chung cư là tập hợp nhiều nhà chung cư theo một mô hình quy hoạch với quy mô nhất định trên cơ sở được trang bị đồng bộ hệ thống các công trình hạ tầng xã hội và kỹ thuật đô thị, đáp ứng nhu cầu cư trú của người dân đô thị. Nhà chung cư là nhà ở có nhiều căn hộ (sở hữu riêng) sử dụng chung hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội (sở hữu chung), như đường đi, cầu thang, không gian công cộng. Nhà chung cư có thể thấp tầng và cao tầng, thậm chí siêu cao tầng.
- Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm: + Phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm cả diện tích ban công, logia gắn liền với căn hộ đó. + Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật. + Hệ thống trang thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với các bộ, phần diện tích thuộc phần sở hữu riêng. - Phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm: + Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng trên.2 Khu chung cư cũ Khu chung cư cũ (KCCC) là khu chung cư đã được xây dựng và tồn tại qua nhiều năm.
Trong luận văn, đó là các khu chung cư được xây dựng ở Hà Nội trong giai đoạn 1960 — 1985. Thời kỳ ấy khu chung cư được gọi tên phổ biến là Khu tập thể (KTT), một mô hình đơn vị cư trú ưu việt và điển hình của chủ nghĩa xã hội.2 Khái quát quá trình phát triển khu chung cư cũ Hà Nội 1.1 Khu chung cư trước 1954: Những công trình nhà chung cư đầu tiên ở Việt Nam thuộc tác phẩm của các kiến trúc sư người Pháp vào cuối những năm 30, không phải ở Hà Nội mà ở Sài Gòn và không phải cho tầng lớp bình dân mà cho giai cấp tư sản thành thị, ban đầu chủ yếu là người Pháp rồi sau đó đến người Việt. Những công trình này đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và xây dựng những mô hình tinh tế và phù hợp với môi trường: mặt tiền quay ra phố kéo dài liên tục, bố trí theo kiểu răng cưa, có phần chân tường và viền sân thượng, những khu cư xá hỗn hợp với lối đi có mái che, các công trình công cộng và cửa hàng cửa hiệu giống như những tòa nhà hiện vẫn còn tồn tại trên đường Đồng Khởi (trước là đường Catinat), và đặc biệt là dãy nhà tiêu biểu theo kiểu tổ hợp nhà ở/lối đi/rạp chiếu phim Eden. Công trình đầu tiên thuộc loại này ở Hà Nội là một dãy nhà bốn tầng với các căn hộ được bố trí quanh một khoảng sân, với lối kiến trúc đặc trưng của những năm 40, tường xây bằng gạch, mái lợp ngói dốc về 4 phía.2 Khu chung cư giai đoạn 1954-1960: Những khu tập thể sơ khai đầu tiên xuất hiện trong giai đoạn này : nhà viện trợ, khu Bạch Đằng, Lương yên,.
Việc phân chia những ngôi nhà có sẵn cũng được tiến hành đồng thời với những chiến dịch “giác ngộ” (công tác tư tưởng) chủ nhân của những ngôi nhà đó nhằm thuyết phục họ chấp nhận nguyên tắc phân chia nhà của mình (biệt thự hoặc nhà ống) thành nhiều căn hộ để đón nhận nhiều gia đình khác cùng chung sống. Như vậy, diện tích nhà ở được chia công bằng, song cũng dẫn đến tỷ lệ bình quân rất thấp: mỗi hộ chỉ được từ một đến hai phòng. Chỉ có những cán bộ cao cấp và những đại gia đình có truyền thống yêu nước mới không phải chịu mức phân phối này. Quá trình “tập thể hóa” quy tụ nhiều gia đình trong một ngôi nhà mà ban đầu chỉ dành cho một hộ, dù là biệt thự hay nhà ống, đã biến những ngôi nhà này thành nhà tập thể, đồng thời tạo ra những thuộc tính không gian mà sau này được thể hiện qua những KTT được xây dựng trong giai đoạn từ những năm 60-80 như: lối vào chung, bếp và nhà tắm chung, cầu thang và hành lang chung, những sinh hoạt chung của nhiều gia đình và các gian nhà xây chỗồng tầng lên nhau.3 Khu chung cư giai đoạn 1960-1975: Năm 1958, các kiến trúc sư của Bộ Xây dựng đã nghiên cứu 16 dự án nhà tập thể.
Trong số này, dự án đầu tiên được triển khai tại phố Nguyễn Công Trứ trên nền của một nghĩa trang cũ của người Châu Âu với 16 dãy nhà 4 tầng nằm song song với mặt phố theo một mô hình kiến trúc dựa trên tư tưởng bao cấp những năm 40. Với lối đi được bố trí bên trong, mỗi căn hộ chỉ có một phòng, còn bếp và công trình phụ dùng chung (mỗi tầng chỉ có hai khu phụ vì lý do kinh tế, kỹ thuật và cả hệ tư tưởng); cách bố trí mới mẻ này vấp phải những tập quán truyền thống về không gian ở hướng vào một đại gia đình và luôn tạo mối liên hệ trực tiếp với nền đất. Đây được col là những nhà tập thể theo mô hình XHCN đầu tiên. Mặt bằng tầng điển hình.
Mẫu nhà ứng dụng xáy dựng nhóm ở C„KCGCC Kim Liên, rm z1 ive bed Li BE Thị of ps athe — .á, i oi coma res ee esl cme eee ey ote cae Mật bằng tầng điển inh ahd 8 4,6,10,14 ^~—~-ke=.1: Mẫu nhà được ứng dụng xây dựng những năm 1960-1975 (nguân: Đề tài cấp Thanh pho 2010) 1. Khu chung cư giai đoạn 1975-1980 : Khi sức lực đã hồi phục sau khi thống nhất đất nước, người dân lại bắt đầu có xu hướng mong muốn những điều kiện sống tốt hơn, điều vốn không được coi trọng trong thời kỳ chiến tranh. Khu tập thể hoàn chỉnh (lắp ghép tắm lớn) xuất hiện ở thời kỳ này ( Trung Tự, Giảng Võ, Thanh Xuân.) [ii tri ce l Hình 1.2: Mẫu nhà lắp ghép giai Mat bang tang 25. Mật bằng tổng Í | đoạn 1970-1980 > oS OF DH: 2 09.0 0 99 00 9 9đ | (nguồn: Đề tài cấp Thành phố ik 2010) Đòi hỏi đầu tiên được đưa ra liên quan đến việc xóa bỏ hình thức tập thể hóa những phần thiết kế sử dụng chung như nhà bếp hay công trình phụ vốn dược coi là những nơi kín đáo trong sinh hoạt gia đình, - theo quan niệm truyền thống.Ban đầu những đòi hỏi này chỉ được thể hiện bằng lời nói, chứ không tạo ra được những thay đổi cụ thể, do vẫn tồn tại một chế độ kiểm soát rất chặt chẽ về xã hội và chính trị.
Khu chung cư giai đoạn 1981-1985: Những thay đổi đầu tiên về không gian xuất hiện thể hiện dưới hình thức cơi nới một cách kín đáo các ban công bằng cách quay các lồng sắt (ở các KTT Kim Liên và Trung Tu). Tiếp theo đó các hoạt động cải tạo tiến dần ra những khu vực sử dụng chung có liên quan trực tiếp (công trình phụ, những đoạn hành lang dẫn vào các căn hộ, gầm cầu thang và các lối đi hay nói rộng hơn là tất cả các khoảng không hoàn toàn không sử dụng cho việc đi lại). Trong giai đoạn này cũng xuất hiện hình thức cải tạo kiểu “nhà bếp thoáng gió” thường được cơi nới ở phần ban công phía sau các dãy nhà. Loại nhà bếp này rất phô biến và có một phần lồng sắt bao quanh sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau (treo xoong nồi, phơi quan do, gid dé bat đĩa,kệ để bếp lò, những phần đua ra đề đặt các chậu hoa, cây cảnh).
“sáng kiến” này là một sự quay trở lại với những khoảng không gian có những đặc điểm tương tự như một mảnh sân sau của nhà ống. Kể từ năm 1984, việc nới lỏng quản lý nhà ở đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tư nhân hóa dần phần diện tích đất công ở phía trước mặt các căn hộ ở tầng một mà từ lâu vẫn được người dân quan tâm tới. Thời điểm này cũng chứng kiến sự phát triển của các chợ cóc trong hầu hết các KCCC. Khu chung cư giai đoạn 1985-1992: Tiếp tục phát triển mạnh những hoạt động cải tạo, đã bắt đầu từ trước đó, cùng với những thay đổi lớn trong cơ chế quản lý, nhất là kể từ năm 1986, khi các hộ được phân nhà có thể mua thanh lý của nhà nước.
Đồng thời trong giai đoạn này cũng bắt đầu hình thành và phát triển nhanh chóng một thị trường “bất động sản” không chính thức và hoạt động ngầm trong thời kỳ đầu chỉ dựa trên hoạt động trao đổi nhà. Như vậy, đây là giai đoạn có những thay đổi sâu sắc của các dãy nhà tập thể, từ hình thức mua lại những căn hộ xung quanh (ở bên cạnh hoặc ở tầng trên hay tầng dưới) tạo ra những ngôi nhà ống thực sự áp sát vào các dãy nhà tập thể, cho tới hình thức thay đổi hẳn thiết kế bên trong và phát triển loại hình cho thuê lại nhà. Bên cạnh những thực tế nêu trên là sự phát triển của những công trình cơi nới đua ra ngoài khiến cho bề mặt của các dãy nhà trong tất cả các khu tập thể đều trở nên dày hơn. Những gian cơi nới đó vươn xa tới mức trở thững phòng ở thật sự treo lơ lửng làm biến đổi toàn bộ vẻ bề ngoài của các dãy nhà.3: Mau nha lap ghép giai doan 1980-1990 (nguon: Dé tai cap Thanh pho 2010) 1.7 Khu chung cw hién nay: Day la giai doan thiét lap quan ly, phat trién hon hop d6 thị.