CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN BỀN VỮNG NGUỒN LỢI RƯƠI 1. Một số khái niệm liên quan - Nguồn lợi thủy sản: Theo Luật thủy sản (2017) nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên có giá trị kinh tế, khoa học, du lịch, giải trí (khoản 2, Điều 3). - Bảo tồn: Theo định nghĩa của IUCN (1991) là sự quản lý, sử dụng sinh quyển của con người nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai. - Phát triển bền vững (PTBV) được Liên hợp quốc thống nhất thông qua ở nhiều hội nghị và cuộc họp từ năm 1992 đến 2016 và được hiểu: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.
- Tính bền vững là sự duy trì các điều kiện mà con người và thiên nhiên có thể tồn tại và chung sống hài hòa với nhau, duy trì cân bằng ổn định giữa ba yếu kinh tế - xã hội - môi trường và kết hợp hài hòa ba yếu tố đó để thỏa mãn các nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến các nhu cầu của tương lai, đảm bảo cho thế hệ tương lai vẫn có đủ mọi điều kiện về môi trường (trong đó có các nguồn tài nguyên) và kinh tế - xã hội (Fiksel và nnk, 2012). Cụ thể: (i) “Giá trị” của một hệ thống lợi ích được duy trì theo thời gian. (ii) Mức độ các hệ thống sinh học duy trì tính đa dạng và sức sản xuất. (iii) Sức chống chịu của các hệ thống: Khả năng kéo dài của quá trình.
(iv) Duy trì các quá trình sinh sản, sản xuất: không gây suy thoái, nguy hiểm tới các hệ thống sinh vật tự nhiên; thay thế nguồn tài nguyên mà con người sử dụng bởi các nguồn tài nguyên có giá trị tương đương hoặc cao hơn cho cùng hoạt động mà không làm suy thoái, gây nguy hiểm tới cá hệ thống sinh vật tự nhiên. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo Ratta Tieya và cộng sự “Nghề cá bền vững là giữ cho tổng sản lượng khai thác và lượng chết tự nhiên thấp hơn số lượng cá thể được bổ sung mới”. - Phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản được tổ chức Nông lương thế giới (FAO) thông qua vào năm 1991 (COFI, 1991). Theo đó, “Phát triển bền vững là quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên và định hướng thay đổi công nghệ và thể chế theo cách đảm bảo đạt được và tiếp tục đáp ứng nhu cầu của con người cho các thế hệ hiện tại và tương lai.
Bảo tồn đất, nước, thực vật và tài nguyên di truyền, không suy thoái về môi trường, phù hợp về mặt công nghệ, khả thi về mặt kinh tế và được xã hội chấp nhận”. Đơn giản hơn, định nghĩa này chủ yếu nhấn mạnh đến thu hoạch tài nguyên mà không làm cạn kiệt tài nguyên và bao gồm 3 nội dung chính: (i) Khai thác tài nguyên để tăng trưởng kinh tế mà không ảnh hưởng đến khả năng duy trì khai thác của tài nguyên và môi trường. (ii) Tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên được khai thác, đồng thời đa dạng hóa sử dụng tài nguyên giúp khai thác hiệu quả, tiết kiện chi phí hơn và giảm tác động của việc sử dụng tài nguyên lên các thành phần khác của hệ sinh thái và nỗ lực khác của con người. (iii) Sử dụng các biện pháp phục hồi các hệ sinh thái bị suy thoái do quá trình khai thác phá hủy trong quá khứ, để khôi phục chúng trở lại sử dụng sản xuất.
Hội nghị Thủy sản Thế giới do FAO tổ chức năm 1984 đã thông qua Chiến lược Quản lý và Phát triển Thủy sản và phê duyệt 5 Chương trình Hành động liên quan, là khuôn khổ quốc tế cho quản lý và phát triển nghề cá. Chiến lược đưa ra các hướng dẫn về sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản và bảo vệ môi trường sống dưới nước khỏi ô nhiễm và các hình thức suy thoái môi trường khác, bao gồm cả những nguồn từ hoạt động nghề cá, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản. Hội nghị cũng đã thông qua một nghị quyết đặc biệt kêu gọi hành động quốc tế để bảo vệ nguồn lợi thủy sản của các nước đang phát triển khỏi ô nhiễm. Hai vấn đề chính có tầm quan trọng khi xem xét phát triển bền vững và bảo tồn môi trường đối với nghề cá: thứ nhất, đặc trưng và đánh giá hiện trạng nguồn lợi thủy sản và môi trường sống hiện tại; thứ hai, 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các can thiệp kỹ thuật khác nhau liên quan đến việc sử dụng bền vững tài nguyên thủy sản và bảo vệ môi trường nước.
Mục tiêu của Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2020 như sau: “Bảo tồn, bảo vệ, tái tạo nguồn lợi thủy sản nhằm phục hồi nguồn lợi thủy sản, các loài thủy sản có giá trị kinh tế và nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ; gắn với quản lý có hiệu quả các hoạt động khai thác thủy sản nhằm phát triển ngành khai thác thủy sản bền vững, đồng thời giữ gìn tính đa dạng sinh học của tài nguyên sinh vật biển Việt Nam”. Tình hình nghiên cứu, bảo tồn bền vững nguồn lợi Rươi 1. Trên thế giới Trên thế giới, nghiên cứu về Lớp Giun nhiều tơ được bắt đầu từ hàng thế kỷ trước, trong khi đó Rươi chỉ được đề cập trong các nghiên cứu từ những năm 1960 đến nay. Một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như Imajima và nnk (1964) đã phát hiện loài Rươi phân bố ở biển Nhật Bản đồng thời đã mô tả đặc điểm hình thái của chúng.
Zenkevich (1965) trong cuốn sách “Đời sống động vật” phần Giun nhiều tơ cũng đưa loài Rươi vào danh sách loài cửa sông ở Viễn Đông. Nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm sinh học, sinh thái. L, 1969) đã dùng ánh sáng để điều khiển sự tạo đàn sinh sản của một loài Rươi khác. Nghiên cứu của Yasunori Koya và các cộng sự (2003), “Phương pháp thụ tinh nhân tạo và quan sát quá trình phát triển của phôi Tylorrhynchus heterochaetus tại Nhật Bản”.
Nghiên cứu này đã chỉ ra được phương pháp thụ tinh, nồng độ muối thích hợp cho thụ tinh nhân tạo đối tượng Rươi. Tỷ lệ muối là 80,5% trứng bắt đầu phân bào tử sớm sau thụ tinh và phát triển phân chia mô, nồng độ muối thích hợp đạt từ 50-75%. Nghiên cứu của Yasushi Konno và các cộng sự (2004) về “Sinh thái học quần thể của polychaeta, Tylorrhynchus heterochaetus trong các trầm tích ở Kitakami và sự đóng góp của chúng vào nguồn nitơ cho sự phát triển của Phragmites australis” đã chỉ ra khả năng hấp thụ nitơ trong môi trường của quần thể Rươi. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Nghiên cứu cho sinh sản đối tượng Rươi (Tylorrhynchus heterochaetus)” của Trần Xinghan (2013) đã chỉ ra quá trình phát triển cá thể bố mẹ, quá trình thụ tinh phát triển phôi của Rươi và bước đầu hoàn thiện quy trình cho Rươi đẻ và ương giống thành công.
Nghiên cứu của Ma Dinh Chang (2014) về “Chế độ sinh sản và đặc điểm kỹ thuật chính (Tylorrhynchus heterochaetus)” đã chỉ ra đặc điểm sinh sản và các yếu tố tác động đến quá trình sinh sản của Rươi, đồng thời hoàn thiện quy trình cho sinh sản nhân tạo đối tượng Rươi. Nghiên cứu của Mục Xuê Hui (2017) “Sự phát triển của ấu trùng Rươi Tylorrhynchus heterochaeta và ảnh hưởng của độ mặn đến sinh sản và phát triển của ấu trùng” đã chỉ ra rằng sự phát triển phôi thai của Rươi trải qua 8 giai đoạn, bao gồm cả hợp tử, sự phân tách, blastula, gastrula, trochophore sớm, muộn trochophore, ba setiger nectochaete và ba setiger nectochaere, độ mặn thích hợp cho việc thụ tinh là 10-13‰. Có thể nói, nghiên cứu đối tượng Rươi và hiện tượng Rươi trên thế giới còn rất ít, đặc biệt là các nghiên cứu về bảo tồn nguồn lợi Rươi. Nghiên cứu thường tập trung tại các nước, như: Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Trung Quốc là quốc gia đầu tiên hoàn thiện kỹ thuật cho sinh sản nhân tạo và nuôi đối tượng Rươi thâm canh và bán thâm canh.
Đối tượng Rươi chủ yếu được nuôi tại các vùng ven biển của Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Hình thức nuôi khoanh vùng tự nhiên có Rươi và tiến hành lấy giống theo mùa, sử dụng công nghệ tạo giống tự nhiên bằng phương pháp mô phỏng môi trường tự nhiên của Rươi khi vào mùa sinh sản, và phương pháp sinh sản nhân tạo. Rươi được nuôi trong ao đất, ruộng lúa, nuôi trên bể xi măng. Ở Việt Nam Tại Việt Nam, Rươi sống ở vùng triều cửa sông ven bờ, các vùng nước lợ.
Chúng có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất mùn bã hữu cơ và xác động vật chết, tạo nên độ màu mỡ, tơi xốp cho vùng đất ngập nước ven biển. Rươi cũng được xem như là sinh vật chỉ thị mức độ ô nhiễm môi trường thông qua xác định mật độ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quần thể, sản lượng và tần suất xuất hiện. Ngoài ra, Rươi còn là động vật biển mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân địa phương. Một số nghiên cứu độc lập (Nguyễn Công Tiễu, 1927; Gravier, 1932) đã thu mẫu để phân tích loài Rươi tại vùng cửa sông thuộc các tỉnh Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Bình.
Các tác giả có chung nhận định là loài Rươi (T. heterochaetus) phân bố và xuất hiện nhiều nhất vẫn là vùng Hải Phòng, Thái Bình và Hải Dương. Theo điều tra nghiên cứu của Dawydoff (1952) thì Rươi có xuất hiện ở vùng biển Nha Trang và Côn Đảo. Tác giả cho rằng những cá thể Rươi bắt gặp tại Nha Trang có thể có nguồn gốc ở phía Bắc, bị các dòng chảy của mưa bão đưa về phía Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào kiểm chứng lại nhận định này. Ở miền Tây Nam Bộ, Rươi phân bố nhiều ở các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Bến Tre. Ở Bến Tre, ngày Rươi xuất hiện nhiều thường vào các ngày 28, 29, 30 cận Tết Nguyên Đán. Theo công bố trong Bách Khoa thủy sản (2007) thì tất cả các vùng nước lợ thuộc các cửa sông ở nước ta đều có Rươi phân bố, nhưng nhiều hơn cả là các vùng bãi triều cửa sông Văn Úc, sông Hồng, sông Thái Bình và một phần vùng sông Thanh Hoá.
Vùng Hải Dương có khu vực Tứ Kỳ là vùng có nhiều Rươi nhất – là nơi có nghề truyền thống đánh bắt Rươi.