Tổng quan nghiên cứu

Khu hệ chim giữ vai trò chỉ thị sinh thái trọng yếu đối với sự ổn định của các hệ sinh thái đất ngập nước và rừng trên núi đá vôi. Tại Việt Nam, hệ thống rừng đặc dụng đã phát triển lên tới 165 khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia, tuy nhiên nhiều khu vực vẫn đối mặt với nguy cơ suy giảm sinh cảnh do sức ép nhân sinh. Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, tỉnh Ninh Bình được thành lập theo Quyết định số 2888/QĐ-UBND ngày 18/12/2001 với tổng diện tích 2.736 ha, đại diện cho vùng đất ngập nước nội địa lớn nhất châu thổ đồng bằng Bắc Bộ.

Khu bảo tồn bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng 1.297 ha, phân khu phục hồi sinh thái 1.437 ha và phân khu hành chính dịch vụ 2 ha, trải dài trên địa bàn 7 xã thuộc huyện Gia Viễn. Áp lực nhân khẩu học với mật độ dân số vùng đệm đạt 530 người/km2 cùng 412 hộ dân sinh sống trực tiếp trong vùng lõi đã tạo ra xung đột nghiêm trọng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn tài nguyên sinh vật.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện tính đa dạng sinh học của khu hệ chim về thành phần loài, sinh cảnh phân bố, hiện trạng bảo tồn nguồn gen quý hiếm và xác định các nguyên nhân gây suy thoái sinh thái. Kết quả nghiên cứu xác lập bộ dữ liệu khoa học nền tảng gồm 101 loài chim, làm căn cứ thực tiễn cho Ban quản lý khu bảo tồn và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình trong công tác quy hoạch phân khu, nâng cao hiệu quả quản trị 2.046 ha đất lâm nghiệp giao khoán và định hướng phát triển du lịch sinh thái quan sát chim bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống phân loại học hiện đại của Sibley, Ahlquist và Monroe kết hợp với các chỉ dẫn chuyên ngành của Hội đồng Bảo tồn Chim Quốc tế (BirdLife International) nhằm chuẩn hóa danh mục phân loại các bậc taxon. Khung lý thuyết sinh thái học cảnh quan (Landscape Ecology) được tích hợp để phân tích mối tương quan giữa 6 dạng sinh cảnh đặc trưng với tập tính làm tổ, dinh dưỡng và cư trú của các loài chim bản địa lẫn chim di cư.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình phân tích sức ép nhân khẩu học và sinh kế cộng đồng dựa trên lý thuyết sử dụng tài nguyên có sự tham gia của người dân (Participatory Resource Management). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Đa dạng khu hệ chim (Avifauna Diversity): Mức độ phong phú về thành phần loài, họ, bộ trong một không gian địa lý xác định.
  • Quần xã đất ngập nước nội địa (Inland Wetland Community): Tập hợp các loài động thực vật gắn liền với thủy vực nước ngọt nông và thảm thực vật thủy sinh.
  • Loài nguy cấp, quý, hiếm: Nhóm loài có nguy cơ tuyệt chủng cao được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, Sách Đỏ Việt Nam 2007 và Danh lục đỏ thế giới IUCN.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập thông qua hệ thống khảo sát thực địa đa tầng kết hợp kế thừa số liệu lưu trữ từ Chi cục Kiểm lâm và Ban quản lý khu bảo tồn giai đoạn 2001-2012.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu được thiết kế cụ thể:

  • Khảo sát xã hội học (PRA): Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng với 90 người dân và cán bộ địa phương tham gia thảo luận nhóm (chia thành 6 nhóm, mỗi nhóm 15 người tại các xã vùng đệm và vùng lõi), kết hợp phỏng vấn sâu 50 cá nhân đại diện chính quyền xã, cán bộ kiểm lâm và thợ săn địa phương thông qua bảng hỏi cấu trúc.
  • Khảo sát thực địa sinh thái: Thiết lập 3 tuyến điều tra chim cố định với chiều dài trung bình từ 3,0 km đến 3,5 km trải rộng qua các dạng địa hình đầm lầy, thung lũng đá vôi và vùng giáp ranh ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Nam. Đồng thời, thiết lập 2 tuyến điều tra cấu trúc sinh cảnh gồm tuyến trên cạn dài 4,9 km và tuyến thủy vực dài 3,0 km.

Phương pháp chụp ảnh tư liệu và nhật ký thực địa sử dụng máy ảnh kỹ thuật số gắn ống kính tầm xa 70-400mm, ống nhòm chuyên dụng và kính ngắm trường độ nét cao. Tần suất quan sát duy trì định kỳ 2 tháng một lần, mỗi đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày trong khung giờ kiếm ăn trọng điểm (5h30 - 18h00 ban ngày và 19h00 - 22h00 ban đêm). Lý do lựa chọn kết hợp phương pháp quan sát thực địa định lượng và đánh giá nhanh nông thôn (PRA) là nhằm bảo đảm tính xác thực sinh học của mẫu vật mà không cần xâm hại quần thể sống, đồng thời lượng hóa chính xác các tác động nhân vi tác động lên sinh cảnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác định khu hệ chim tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long có 101 loài thuộc 75 giống, 39 họ và 13 bộ. Cấu trúc phân loại thể hiện sự vượt trội của Bộ Sẻ (Passeriformes) khi chiếm vị trí dẫn đầu ở tất cả các bậc taxon với 45 loài (chiếm 44,5% tổng số loài), 32 giống (chiếm 42,6%) và 20 họ (chiếm 51,4%). Đứng thứ hai về số lượng loài là Bộ Hạc (Ciconiiformes) với 14 loài (chiếm 13,8%), tiếp theo là Bộ Sếu (Gruiformes) với 10 loài (chiếm 10,0%).

So với các kết quả khảo sát sơ bộ giai đoạn 2001-2003 của các nhà khoa học trước đây (ghi nhận 98 loài), luận văn đã phát hiện và ghi nhận bổ sung 3 loài chim mới cho khu bảo tồn, bao gồm: Cò nhạn (Anastomus oscitans), Giẻ cùi (Urocissa erythrorhyncha) và Đầu rìu (Upupa epops).

Về giá trị bảo tồn nguồn gen, khu bảo tồn đang lưu giữ nhiều loài động vật có giá trị sinh học đặc biệt cao:

  • 04 loài nằm trong Danh mục Thực vật rừng, Động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành kèm Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ, gồm Gà lôi trắng (Lophura nycthemera - nhóm IB), Diều hoa Miến Điện (Spilornis cheela - nhóm IIB), Cú lợn lưng xám (Tyto alba - nhóm IIB) và Phướn đất (Carpococcyx renauldi - nhóm IIB).
  • 03 loài được kiểm soát theo Phụ lục II của Công ước CITES năm 2010 (Cắt lưng hung, Cú lợn lưng xám, Cú mèo khoang cổ).
  • 03 loài được ghi danh trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 gồm Cò nhạn (bậc R - hiếm), Sâm cầm (Fulica atra - bậc R) và Bồng chanh (Alcedo atthis - bậc T - bị đe dọa).
  • 89 loài thuộc bậc ít quan tâm (LC) và 1 loài thuộc bậc sắp bị đe dọa (NT) theo Danh lục đỏ thế giới IUCN năm 2012.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu phân bố chim theo sinh cảnh được trình bày trực quan qua bảng cấu trúc phân loại và biểu đồ tương quan sinh thái, phản ánh sự phân hóa rõ rệt giữa hai nhóm cảnh quan chính:

  • Nhóm sinh cảnh cạn (chiếm 64,3% tổng số loài): Bao gồm 549 ha rừng phục hồi trên núi đá vôi (chiếm 20,1% diện tích), 1.166 ha trảng cỏ cây bụi (chiếm 42,6%), 414 ha núi đá không cây (chiếm 15,2%), 78 ha rừng trồng và 215 ha đất nông nghiệp - thổ cư. Nhóm này là nơi cư trú của 65 loài chim thuộc 8 bộ và 28 họ. Sự phục hồi của các loài cây gỗ ưa canxi như Sanh, Găng gai, Sảng, Chân chim đã tạo ra nguồn thức ăn dồi dào từ hạt, quả và côn trùng cho các họ Chào mào (5 loài), họ Sáo (4 loài) và họ Cu cu (4 loài).
  • Nhóm sinh cảnh đất ngập nước (chiếm 35,6% tổng số loài): Bao gồm 314 ha thủy vực quanh năm (chiếm 11,4% diện tích khu bảo tồn) và mở rộng lên đến 988 ha vào mùa mưa (chiếm 36,1%). Vùng đất ngập nước này duy trì nơi kiếm ăn cho 36 loài chim thuộc 7 bộ và 11 họ, trong đó Họ Diệc và Họ Gà nước chiếm ưu thế tuyệt đối.

Sự biến động diện tích ngập nước theo mùa từ 314 ha lên 988 ha tạo nên vùng đệm thức ăn phong phú gồm các loài ốc, cá nhỏ và giáp xác, thu hút hàng nghìn cá thể chim nước di cư trú đông từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Đặc biệt, khu bảo tồn ghi nhận sự hiện diện ổn định của quần thể Sâm cầm quý hiếm với số lượng dao động từ 17 đến 28 cá thể vào mùa đông.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm tiềm tàng của khu hệ chim xuất phát từ hoạt động khai thác tài nguyên của 412 hộ dân vùng lõi, tình trạng chăn thả gia súc tự do không quy hoạch và sự xuất hiện của các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng ở khu vực giáp ranh phát sinh tiếng ồn, làm thu hẹp không gian kiếm ăn tự nhiên.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo vệ bền vững khu hệ chim và phục hồi các hệ sinh thái đất ngập nước tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Vân Long, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Thiết lập và số hóa hệ thống ranh giới bảo vệ: Ban quản lý khu bảo tồn cần phối hợp với UBND huyện Gia Viễn và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Ninh Bình hoàn thành việc cắm mốc ranh giới cố định trên thực địa cho toàn bộ 1.297 ha phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trong giai đoạn 2014-2016. Ứng dụng công nghệ định vị GPS và bản đồ viễn thám GIS nhằm kiểm soát 100% diện tích đất rừng, ngăn chặn dứt điểm tình trạng lấn chiếm đất ngập nước để làm nông nghiệp.
  2. Thực thi chương trình sinh kế thay thế cho cộng đồng vùng lõi: UBND tỉnh Ninh Bình và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần bố trí nguồn vốn hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho 412 hộ dân tại 5 thôn vùng lõi thuộc xã Gia Hòa và Gia Hưng giai đoạn 2014-2018. Mục tiêu giảm 50% áp lực khai thác lâm sản phụ và kiểm soát triệt để việc chăn thả gia súc tự do trong các thung lũng đá vôi.
  3. Nâng cấp năng lực tuần tra và cơ sở vật chất kiểm lâm: Bổ sung biên chế cán bộ kỹ thuật lâm sinh và kiểm lâm địa bàn từ 8 người hiện tại lên 15 người, đồng thời củng cố lực lượng 28 nhân viên bảo vệ rừng tại 10 trạm chốt. Trang bị bổ sung 100% ống nhòm đêm, máy quay giám sát và phương tiện cano tuần tra chuyên dụng trước năm 2017 nhằm phát hiện, xử lý 100% các hành vi săn bẫy chim hoang dã.
  4. Quy hoạch du lịch sinh thái có kiểm soát sức tải môi trường: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình phối hợp với Ban quản lý xây dựng 3 tour du lịch quan sát chim chuyên đề tại khu vực Đầm Cút và núi Mâm Xôi. Giới hạn số lượng thuyền du lịch không vượt quá 150 lượt/ngày vào mùa chim di cư (tháng 11 đến tháng 2) để duy trì vùng yên tĩnh cho quần thể chim nước làm tổ và kiếm ăn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và cơ sở dữ liệu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý lâm nghiệp và Ban quản lý các khu bảo tồn: Cung cấp khung phương pháp điều tra thực địa, phân loại sinh cảnh và kinh nghiệm giải quyết xung đột lợi ích giữa bảo tồn đa dạng sinh học với ổn định dân sinh vùng đệm cho các khu rừng đặc dụng có địa hình karst ngập nước tương tự.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp đánh giá thành phần loài chim theo quan điểm phân loại học hiện đại, phương pháp xử lý dữ liệu sinh thái học và thiết kế bảng biểu nghiên cứu thực địa.
  3. Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế: Sử dụng số liệu kiểm kê 101 loài chim và hiện trạng các loài nguy cấp (như Sâm cầm, Cò nhạn, Diều hoa Miến Điện) làm căn cứ tài trợ dự án, lập kế hoạch hành động bảo tồn đa dạng sinh học tại vùng cảnh quan karst Bắc Bộ.
  4. Doanh nghiệp lữ hành và nhà phát triển du lịch sinh thái: Tham khảo tập tính mùa vụ, bản đồ phân bố các loài chim nước lớn để xây dựng sản phẩm du lịch xem chim (birdwatching) chuyên nghiệp, đáp ứng xu hướng du lịch bền vững và nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường cho du khách.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long hiện có bao nhiêu loài chim được ghi nhận? Kết quả điều tra thực địa của luận văn đã ghi nhận tổng cộng 101 loài chim thuộc 75 giống, 39 họ và 13 bộ. Trong đó, Bộ Sẻ chiếm ưu thế lớn nhất với 45 loài, tiếp theo là Bộ Hạc với 14 loài và Bộ Sếu với 10 loài.

  2. Luận văn đã bổ sung những loài chim mới nào cho danh lục khu bảo tồn? So với danh lục 98 loài được ghi nhận trong các khảo sát giai đoạn 2001-2003, luận văn đã phát hiện và bổ sung 3 loài mới cho khu hệ chim Vân Long gồm Cò nhạn (Anastomus oscitans), Giẻ cùi (Urocissa erythrorhyncha) và Đầu rìu (Upupa epops).

  3. Khu bảo tồn có những loài chim nào nằm trong Sách Đỏ và văn bản pháp luật cần bảo vệ nghiêm ngặt? Khu bảo tồn hiện lưu giữ 04 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP (Gà lôi trắng nhóm IB; Diều hoa Miến Điện, Cú lợn lưng xám, Phướn đất nhóm IIB), 03 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 (Cò nhạn, Sâm cầm, Bồng chanh) và 03 loài thuộc Phụ lục II CITES 2010.

  4. Mùa nào quan sát chim nước tại đầm Vân Long thuận lợi nhất? Thời điểm lý tưởng nhất là từ tháng 11 năm trước đến tháng 2 năm sau. Vào giai đoạn này, diện tích ngập nước mở rộng kết hợp với mùa chim di cư trú đông, tập trung hàng nghìn cá thể Cò trắng, Cò bợ, Cò ruồi và quần thể Sâm cầm quý hiếm từ 17 đến 28 cá thể.

  5. Áp lực nhân sinh lớn nhất đối với công tác bảo tồn khu hệ chim tại Vân Long là gì? Thách thức lớn nhất là sự hiện diện của 412 hộ dân với 2.504 nhân khẩu sinh sống trong vùng lõi, tạo sức ép khai thác củi, chăn thả dê và gia súc tự do, cùng với nguy cơ ô nhiễm tiếng ồn từ các nhà máy xi măng lân cận làm suy giảm sinh cảnh làm tổ của chim.

Kết luận

  • Luận văn đã hoàn thành điều tra có hệ thống và xác lập danh lục 101 loài chim thuộc 39 họ, 13 bộ tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, bổ sung 3 loài mới cho danh lục khu vực.
  • Định lượng chi tiết cơ cấu phân bố với 65 loài thuộc nhóm sinh cảnh cạn (549 ha rừng phục hồi núi đá) và 36 loài thuộc nhóm đất ngập nước (314 ha mùa khô, mở rộng 988 ha mùa mưa).
  • Đánh giá chính xác hiện trạng 04 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP, 03 loài Sách Đỏ Việt Nam 2007 và 03 loài thuộc Phụ lục II CITES, khẳng định vị thế bảo tồn quốc tế của vùng ngập nước Vân Long.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, sinh kế và quản lý với lộ trình thực hiện từ năm 2014 đến 2020 nhằm giảm áp lực từ 412 hộ dân vùng lõi và nâng cao năng lực cho đội ngũ kiểm lâm.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng cho việc hoạch định chính sách lâm nghiệp địa phương và mở ra tiềm năng khai thác du lịch sinh thái quan sát chim bền vững tại tỉnh Ninh Bình.

Hãy liên hệ ngay với các đơn vị quản lý tài nguyên rừng và các tổ chức bảo tồn đa dạng sinh học để ứng dụng các giải pháp khoa học này vào thực tiễn quản lý rừng đặc dụng!