Tổng quan nghiên cứu
Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu được thành lập theo Quyết định số 512/QĐ-UB ngày 09 tháng 10 năm 2006 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái với diện tích quy hoạch gần 16.950 ha, nằm trên địa giới hành chính của 4 xã phía Nam huyện Văn Yên bao gồm Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng và Phong Dụ Thượng. Toàn bộ khu vực 4 xã có tổng diện tích tự nhiên là 43.310 ha, là nơi cư trú của 2.226 hộ gia đình với 11.902 nhân khẩu, trong đó tỷ lệ hộ nghèo bình quân chiếm tới 54%, cá biệt tại xã vùng lõi Nà Hẩu tỷ lệ hộ nghèo lên tới 52,4%. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi nảy sinh từ mâu thuẫn gay gắt giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt hệ sinh thái rừng nhiệt đới á nhiệt đới giàu tính đa dạng sinh học với nhu cầu sinh kế thiết yếu của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa gồm người H'Mông và người Dao. Quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn vô cùng khan hiếm, chỉ chiếm 4,3% tổng diện tích tự nhiên, dẫn tới bình quân đất trồng lúa nước chỉ đạt 193,5 m2/khẩu (tương đương chưa đầy 1 sào Bắc Bộ/người). Sự thiếu hụt trầm trọng nguồn lương thực tại chỗ cùng tập quán canh tác phát nương làm rẫy, khai thác lâm sản ngoài gỗ và săn bắt động vật đã tạo ra áp lực nặng nề lên tài nguyên rừng.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện, lượng hóa các hình thức và mức độ tác động bất lợi cũng như tích cực của cộng đồng người dân; phân tích các nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thu nhập hộ; xác định rõ các nguyên nhân căn bản gây suy giảm tài nguyên rừng; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có cơ sở khoa học và tính khả thi cao nhằm giảm thiểu xung đột, thu hút người dân tham gia đồng quản lý rừng bền vững. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 xã trọng điểm đại diện cho các vùng sinh thái và cơ cấu tộc người khác nhau tại huyện Văn Yên trong giai đoạn 2006 đến 2011. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học giúp giảm thiểu hơn 70% số vụ vi phạm lâm luật, nâng cao hiệu quả chi trả giao khoán quản lý bảo vệ rừng cho 411 hộ gia đình, đồng thời bảo tồn trọn vẹn 1.198 loài động thực vật quý hiếm đang sinh sống tại khu bảo tồn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba khung lý thuyết nền tảng trong khoa học quản lý tài nguyên và sinh thái học:
Lý thuyết hệ thống (Systems Theory) được vận dụng làm nền tảng phương pháp luận nhằm xem xét mối quan hệ hữu cơ, đa chiều giữa hệ thống tự nhiên (tài nguyên rừng) và hệ thống kinh tế - xã hội của con người. Bất kỳ sự can thiệp nào của người dân vào tài nguyên rừng đều tạo ra sự biến đổi cấu trúc thành phần sinh thái, ngược lại các yếu tố kinh tế như mức sống, thu nhập và thể chế quản lý sẽ quyết định trực tiếp đến hình thức và cường độ tác động của người dân lên rừng.
Mô hình Tháp sinh thái nhân văn (Human Ecological Pyramid) của Park (1936), được kế thừa và phát triển bởi Teherani-Kroenner (1992) cùng Nguyễn Bá Ngãi (2001), phân tích hành vi của con người qua 4 tầng bậc tương tác có thứ tự: Bậc Sinh thái (yếu tố tự nhiên, địa hình, khí hậu), Bậc Kinh tế (sinh kế, thu nhập, chi phí), Bậc Thể chế - Chính sách (luật pháp, quy ước thôn bản, chính sách giao khoán) và Bậc Đạo đức - Văn hóa (nhận thức, tập quán, tri thức bản địa).
Quan điểm Bảo tồn - Phát triển của Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999) nhấn mạnh 3 cách tiếp cận chiến lược: Giải pháp thay thế sinh kế, Phát triển kinh tế vùng đệm và Tiếp cận có sự tham gia của người dân vào quy hoạch, chia sẻ lợi ích tài nguyên. Ngoài ra, nghiên cứu làm rõ các khái niệm then chốt gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (9.863 ha), Phân khu phục hồi sinh thái (6.991,5 ha), Vùng đệm, Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và Thể chế quản lý rừng cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo định kỳ của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái, Ủy ban nhân dân huyện Văn Yên giai đoạn 2006-2011 cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 117/2010/NĐ-CP và Quyết định 186/2006/QĐ-TTg. Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra thực địa, khảo sát xã hội học và phỏng vấn bảng hỏi trực tiếp tại 20 thôn bản thuộc 3 xã nghiên cứu điểm.
Quy mô dung lượng mẫu điều tra được xác định chính xác ở mức 97 hộ gia đình thông qua công thức tính mẫu chọn ngẫu nhiên không lặp lại từ tổng thể 1.221 hộ dân của 3 xã, với mức độ tin cậy 95% và sai số mẫu cho phép trong khoảng 5% đến 10%. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm bảo đảm tính đại diện toàn diện:
- Địa bàn khảo sát: Xã Nà Hẩu (31 hộ đại diện cho 250 hộ toàn xã), xã Đại Sơn (33 hộ đại diện cho 473 hộ) và xã Mỏ Vàng (33 hộ đại diện cho 498 hộ).
- Phân tầng kinh tế: 20 hộ Khá, 43 hộ Trung bình và 34 hộ Nghèo.
- Phân tầng vị trí sinh sống: 42 hộ tại Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt (vùng lõi), 24 hộ tại Phân khu phục hồi sinh thái và 31 hộ tại Vùng đệm.
- Cơ cấu dân tộc: 47 hộ người H'Mông, 48 hộ người Dao và 2 hộ dân tộc khác.
Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), phỏng vấn nhóm tập trung, phân tích ma trận SWOT và kỹ thuật phân tích nguyên nhân gốc rễ 5 Whys. Số liệu được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS 13.0 và Microsoft Excel. Lý do lựa chọn hàm sản xuất Cobb-Douglas biến đổi logarit tự nhiên là nhằm định lượng chính xác mức độ co giãn và đóng góp của các biến số đầu vào (diện tích đất, lao động, vốn) cùng các biến hiệu quả (học vấn, mức độ gần rừng, dân tộc) đối với tổng thu nhập hộ. Hệ số tương quan Pearson và hệ số xác định R bình phương được sử dụng để kiểm định mức độ phụ thuộc sinh kế vào rừng. Ma trận Win-Loss của Sunderlin (2003) được vận dụng để phân tích các kịch bản đánh đổi giữa giảm nghèo và bảo tồn tài nguyên. Toàn bộ tiến trình khảo sát và phân tích được triển khai thực hiện từ năm 2010 đến năm 2011.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tình hình vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu có xu hướng giảm rõ rệt qua các năm nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ phức tạp. Tổng số vụ vi phạm lâm luật đã giảm 71,4%, từ 91 vụ năm 2006 xuống còn 26 vụ vào năm 2010. Trong cơ cấu các hành vi vi phạm:
- Khai thác, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản chiếm tỷ lệ cao nhất và luôn chiếm trên 50% tổng số vụ qua các năm (47 vụ năm 2006 giảm xuống 21 vụ năm 2010, chiếm 80,7% tổng số vi phạm năm 2010).
- Phá rừng làm nương rẫy trái phép giảm mạnh từ 26 vụ năm 2006 xuống còn 3 vụ năm 2010 (chiếm 11,5%).
- Săn bắt, vận chuyển trái phép động vật rừng giảm từ 16 vụ năm 2006 xuống còn 1 vụ năm 2010.
Thứ hai, áp lực sinh kế từ đất canh tác nông nghiệp quá nhỏ bé trong khi quy mô dân số vùng lõi và phân khu phục hồi sinh thái rất lớn. Tổng diện tích đất nông nghiệp của 3 xã chỉ có 997,10 ha (chiếm 4,3% diện tích tự nhiên), riêng đất ruộng lúa nước chỉ đạt 148,00 ha (xã Nà Hẩu có 55,70 ha; Đại Sơn có 53,20 ha; Mỏ Vàng có 39,10 ha). Bình quân diện tích ruộng lúa nước chỉ đạt 193,5 m2/khẩu, buộc người dân phải duy trì 801,52 ha đất nương rẫy trên đất dốc để bù đắp lương thực. Hiện tại có 1.878 người cư trú trong vùng lõi và 3.362 người sinh sống trong phân khu phục hồi sinh thái.
Thứ ba, sự tham gia của người dân trong công tác quản lý bảo vệ rừng đã bước đầu được hình thành nhưng quyền lợi kinh tế nhận lại còn hạn chế. Toàn khu bảo tồn đã ký kết hợp đồng khoán bảo vệ rừng cho 21 nhóm với 411 hộ gia đình tham gia trên diện tích hơn 7.683 ha thuộc nguồn vốn Dự án 661. Mức nhận khoán được chi trả ở mức 100.000 đồng/ha/năm, mỗi thành viên tổ bảo vệ rừng cấp thôn nhận phụ cấp khoảng 900.000 đồng/người/năm. Đơn vị quản lý đã triển khai cắm được 190 cột mốc ranh giới trên thực địa (đạt 54,3% so với kế hoạch 350 cột mốc).
Thứ tư, khai thác lâm sản ngoài gỗ diễn ra phổ biến ở 100% các hộ nghèo và trung bình. Các loại lâm sản như vầu, giang, nứa được khai thác với khối lượng lớn vừa phục vụ nhu cầu làm vật liệu xây dựng, đan lát đồ dùng sinh hoạt gia đình, vừa xuất bán làm nguyên liệu giấy cho các nhà máy chế biến trên địa bàn huyện Văn Yên.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản dẫn đến các tác động tiêu cực của cộng đồng vào tài nguyên rừng xuất phát từ sự đứt gãy giữa nhu cầu sinh tồn và các quy định hành chính cấm đoán nghiêm ngặt. Khi khu bảo tồn được thành lập năm 2006, người dân bản địa bị hạn chế đột ngột các quyền tiếp cận tài nguyên truyền thống nhưng các mô hình sinh kế thay thế lại chưa kịp thời bù đắp thâm hụt thu nhập. Đời sống của hơn 99% đồng bào H'Mông tại xã Nà Hẩu và người Dao tại xã Đại Sơn, Mỏ Vàng phụ thuộc mật thiết vào hệ sinh thái rừng. Tình trạng canh tác quảng canh trên đất dốc không bón phân làm đất nhanh chóng thoái hóa, kéo theo nhu cầu phát dọn nương rẫy mới.
Trong các báo cáo phân tích, dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường thể hiện xu hướng giảm dần của 4 loại hình vi phạm lâm luật giai đoạn 2006-2010, đồ thị thanh ngang so sánh cơ cấu đất đai với sự chênh lệch lớn giữa đất lâm nghiệp (chiếm 89,8% diện tích) và đất nông nghiệp (4,3%), cùng bảng hồi quy đa biến phản ánh tương quan giữa các yếu tố sản xuất của kinh tế hộ. Khi so sánh với các nghiên cứu kinh tế lâm nghiệp tại Vườn quốc gia Ba Vì (Nguyễn Thị Phương, 2003) hay Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (Đỗ Anh Tuân, 2001), kết quả tại Nà Hẩu tái khẳng định quy luật: Thu nhập từ rừng chiếm từ 34% đến 62% tổng thu nhập hộ gia đình miền núi. Do đó, việc chỉ áp dụng biện pháp xử phạt hành chính (xử lý 89 vụ năm 2006 và 24 vụ năm 2010) sẽ không thể giải quyết triệt để vấn đề nếu không gắn bảo tồn với việc nâng cấp chuỗi giá trị nông lâm kết hợp như cây quế (loại cây hiện có 1.518,72 ha tại 3 xã nghiên cứu).
Việc áp dụng mô hình ma trận Win-Loss của Sunderlin (2003) cho thấy kịch bản tối ưu "Được - Được" (Vừa phát triển kinh tế hộ vừa bảo vệ tốt rừng) chỉ đạt được khi người dân được công nhận là đối tác đồng quản lý, được chia sẻ lợi ích công bằng và chuyển giao quyền tự chủ thông qua các bản hương ước thôn bản đã được 100% thôn xóm cam kết thực hiện.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm giải quyết dứt điểm các tác động bất lợi và thiết lập cơ chế đồng quản lý bền vững tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất triển khai:
Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch ranh giới và nâng cao hiệu quả chính sách giao khoán quản lý bảo vệ rừng.
- Động từ hành động: Khảo sát, cắm mốc, bàn giao và điều chỉnh mức chi trả khoán bảo vệ rừng.
- Chỉ số mục tiêu: Hoàn thành cắm 160 cột mốc ranh giới còn lại (đạt 100% mục tiêu 350 mốc); mở rộng diện tích khoán bảo vệ rừng từ 7.683 ha lên trên 12.000 ha; nâng mức chi trả nhận khoán từ 100.000 đồng/ha/năm lên 200.000 - 400.000 đồng/ha/năm; nâng mức thù lao tổ tuần tra thôn bản từ 900.000 đồng/người/năm lên 1.800.000 đồng/người/năm.
- Khung thời gian: Giai đoạn 2012 - 2014.
- Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu chủ trì, phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Yên Bái và Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên.
Thứ hai, phát triển sinh kế thay thế và đẩy mạnh thâm canh nông lâm nghiệp bền vững.
- Động từ hành động: Chuyển đổi giống cây trồng, tập huấn kỹ thuật canh tác ruộng bậc thang, quy hoạch vùng chuyên canh cây đặc sản.
- Chỉ số mục tiêu: Mở rộng diện tích trồng cây quế chất lượng cao từ 1.518,72 ha lên 2.500 ha tại vùng đệm và phân khu phục hồi sinh thái; hỗ trợ kỹ thuật thâm canh lúa nước trên 148 ha đất ruộng hiện có nhằm tăng năng suất từ 3,2 tấn/ha lên 4,5 tấn/ha, giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu hụt lương thực cho 2.226 hộ dân, chấm dứt hoàn toàn tập quán du canh trên 801,52 ha đất nương rẫy.
- Khung thời gian: Giai đoạn 2012 - 2015.
- Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Văn Yên, Trung tâm Khuyến nông kết hợp cùng Ủy ban nhân dân 4 xã Nà Hẩu, Đại Sơn, Mỏ Vàng, Phong Dụ Thượng.
Thứ ba, thể chế hóa quyền quản trị rừng của cộng đồng thông qua hương ước, quy ước thôn bản.
- Động từ hành động: Rà soát, chuẩn hóa, ban hành văn bản quy ước và phân bổ nguồn thu xử phạt cho quỹ thôn.
- Chỉ số mục tiêu: Pháp lý hóa 20 bản hương ước bảo vệ rừng tại 20 thôn bản; trích tối thiểu 30% tiền thu từ xử phạt vi phạm lâm luật bổ sung trực tiếp vào quỹ tự quản cộng đồng thôn bản; duy trì hoạt động định kỳ hàng tháng của 20 tổ bảo vệ rừng (quy mô 4-6 người/tổ).
- Khung thời gian: Giai đoạn 2012 - 2013.
- Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân 4 xã chủ trì, có sự giám sát và hỗ trợ pháp lý từ Ban quản lý Khu bảo tồn.
Thứ tư, tăng cường giáo dục môi trường, nâng cao năng lực quản lý và thí điểm du lịch sinh thái.
- Động từ hành động: Tổ chức tuyên truyền cộng đồng, đào tạo cán bộ kiểm lâm địa bàn và xây dựng tuyến điểm du lịch sinh thái.
- Chỉ số mục tiêu: Tổ chức định kỳ 12 đợt tập huấn nâng cao nhận thức bảo tồn/năm cho hơn 2.000 lượt người dân bản địa; tổ chức 2 khóa bồi dưỡng kỹ năng tiếp cận cộng đồng cho 16 cán bộ kiểm lâm; quy hoạch 2 tuyến du lịch sinh thái khám phá thác nước và rừng nguyên sinh tại xã Nà Hẩu, tạo việc làm phi nông nghiệp cho ít nhất 15% lao động địa phương.
- Khung thời gian: Giai đoạn 2013 - 2020.
- Chủ thể thực hiện: Ban quản lý Khu bảo tồn phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Yên Bái cùng các tổ chức phi chính phủ quốc tế.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:
Ban quản lý các Khu rừng đặc dụng, Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Luận văn cung cấp phương pháp luận chuẩn mực và bộ công cụ điều tra có sự tham gia (PRA) nhằm đánh giá chính xác xung đột sinh kế của cư dân vùng lõi. Các nhà quản lý có thể ứng dụng trực tiếp mô hình phân tầng chọn mẫu và quy trình xây dựng tổ tuần tra tự quản thôn bản để áp dụng cho đơn vị mình.
Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và chính quyền địa phương cấp huyện, xã: Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực tiễn về mối liên hệ giữa việc thiếu hụt đất nông nghiệp (193,5 m2/người) với tình trạng vi phạm lâm luật (giảm từ 91 vụ xuống 26 vụ). Lãnh đạo địa phương có thể vận dụng để ban hành các chính sách giao đất lâm nghiệp, lồng ghép nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với phát triển chuỗi giá trị cây quế vùng đệm.
Các chuyên gia nghiên cứu, giảng viên và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng: Đề tài là tài liệu tham khảo khoa học giá trị về việc ứng dụng hàm sản xuất kinh tế lượng Cobb-Douglas, mô hình Tháp sinh thái nhân văn và ma trận Win-Loss trong phân tích quan hệ tương tác sinh thái - nhân văn tại các khu rừng đặc dụng miền núi phía Bắc.
Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế (như FFI, VCF, WWF): Dữ liệu chi tiết về 1.198 loài động thực vật cùng hiện trạng sinh kế của 97 hộ gia đình điều tra là cơ sở dữ liệu nền tảng quan trọng giúp thiết kế, thẩm định và tài trợ các dự án phát triển sinh kế gắn liền với bảo tồn nguồn gen nguy cấp tại khu vực Tây Bắc.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân cốt lõi nào khiến người dân địa phương tác động bất lợi đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn Nà Hẩu?
Nguyên nhân cốt lõi là do sức ép sinh kế nghiêm trọng khi tỷ lệ hộ nghèo lên tới 54% và bình quân đất lúa nước chỉ đạt 193,5 m2/người. Do thiếu đất sản xuất lương thực, người dân buộc phải canh tác nương rẫy trên 801,52 ha đất dốc và khai thác vầu, giang, nứa để mưu sinh trước khi có các nguồn thu nhập thay thế khác.
Công tác quản lý bảo vệ rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu gặp phải những khó khăn lớn nào về mặt tổ chức?
Ban quản lý có biên chế rất mỏng với 5 cán bộ chuyên trách và 11 nhân sự tổ giúp việc, phần lớn phải kiêm nhiệm trên địa bàn hiểm trở rộng 16.950 ha. Cơ sở vật chất, trang thiết bị tuần tra thiếu thốn, trong khi có tới 5.240 người dân sinh sống ngay trong vùng lõi và phân khu phục hồi sinh thái.
Phương pháp chọn mẫu điều tra 97 hộ gia đình trong luận văn được thực hiện theo nguyên tắc nào?
Luận văn áp dụng công thức tính dung lượng mẫu chọn ngẫu nhiên không lặp lại từ 1.221 hộ dân tại 3 xã trọng điểm. Cỡ mẫu 97 hộ bảo đảm độ tin cậy 95%, phân tầng khoa học theo 3 nhóm kinh tế (20 hộ Khá, 43 hộ Trung bình, 34 hộ Nghèo), 3 vị trí phân khu và 2 thành phần dân tộc chính là H'Mông và Dao.
Tình hình vi phạm lâm luật tại Nà Hẩu diễn biến như thế nào trong giai đoạn 2006 - 2010?
Số vụ vi phạm lâm luật giảm mạnh 71,4%, từ 91 vụ năm 2006 xuống 26 vụ năm 2010 nhờ nỗ lực cắm 190 cột mốc và giao khoán bảo vệ rừng cho 411 hộ. Tuy nhiên, hành vi khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất với 21 vụ trong năm 2010 (chiếm 80,7% tổng số vụ).
Giải pháp nào được đánh giá là tạo ra đột phá sinh kế bền vững nhất cho cộng đồng vùng đệm Nà Hẩu?
Giải pháp đột phá nhất là mở rộng vùng chuyên canh cây quế từ 1.518,72 ha lên 2.500 ha tại vùng đệm và phân khu phục hồi sinh thái, kết hợp thâm canh tăng năng suất lúa nước trên 148 ha đất ruộng và nâng mức tiền nhận khoán bảo vệ rừng lên trên 200.000 đồng/ha/năm để bảo đảm sinh kế ổn định.
Kết luận
- Luận văn đã làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh về công tác quản lý bảo vệ 16.950 ha rừng đặc dụng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, định vị chính xác điểm nghẽn giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và nhu cầu sinh tồn của 2.226 hộ dân bản địa.
- Lượng hóa chi tiết xu hướng giảm 71,4% số vụ vi phạm lâm luật giai đoạn 2006-2010 (từ 91 vụ xuống 26 vụ), đồng thời chứng minh tình trạng khai thác lâm sản ngoài gỗ và áp lực nương rẫy trên 801,52 ha đất dốc vẫn là những tác động bất lợi trọng yếu nhất.
- Ứng dụng thành công hệ thống phương pháp luận hiện đại kết hợp giữa mô hình Tháp sinh thái nhân văn, hàm sản xuất Cobb-Douglas và ma trận Win-Loss trên bộ dữ liệu thực chứng 97 hộ điều tra, tạo cơ sở khoa học tin cậy cho việc phân tích kinh tế hộ lâm nghiệp.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao, gắn liền mục tiêu nâng mức hỗ trợ giao khoán bảo vệ rừng với phát triển 2.500 ha rừng quế và thể chế hóa 20 bản hương ước thôn bản tự quản.
- Khẳng định quan điểm đổi mới: Chuyển đổi căn bản từ phương thức quản lý hành chính đóng cửa rừng cứng nhắc sang cơ chế đồng quản lý dựa vào cộng đồng và chia sẻ lợi ích sinh thái bền vững.
Đóng góp chính của luận văn là cung cấp khung giải pháp thực tiễn giúp cân bằng hoàn hảo giữa bảo tồn 1.198 loài sinh vật quý hiếm và nâng cao mức sống cho 54% hộ nghèo miền núi. Kế hoạch tiếp theo cần tập trung hoàn thành 100% cột mốc ranh giới và thể chế hóa chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng giai đoạn 2012-2020. Các nhà quản lý, chính quyền địa phương và các tổ chức bảo tồn cần nhanh chóng bắt tay phối hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên nhằm giữ gìn bền vững tài nguyên rừng Nà Hẩu cho các thế hệ mai sau.