Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ ở các sinh cảnh rừng tại xã Vũ Nông - Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng" được thực hiện bởi sinh viên Đàm Trung Thành (ngành Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2018), dưới sự hướng dẫn của ThS. La Thu Phương. Nghiên cứu tập trung giải quyết yêu cầu cấp thiết về đánh giá hiện trạng tài nguyên thực vật thân gỗ và bảo tồn đa dạng sinh học tại một địa bàn xung yếu thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam.

Bối cảnh thực tiễn được tác giả đặt ra bắt nguồn từ tình trạng suy thoái rừng trên quy mô toàn cầu và trong nước. Dẫn liệu từ các tổ chức IUCN, UNDP và WWF cho thấy trung bình mỗi năm thế giới mất khoảng 20 triệu ha rừng, trong đó đốt rừng làm nương rẫy chiếm 50%, cháy rừng chiếm 23%, khai thác quá mức chiếm 5–7% và các nguyên nhân khác chiếm 8%. Tại Việt Nam, theo công bố hiện trạng rừng của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Quyết định số 3158/QĐ-BNN-TCLN năm 2016), diện tích rừng toàn quốc tính đến ngày 31/12/2015 đạt 14.856 ha (trong đó rừng tự nhiên là 10.519 ha, rừng trồng 3 ha). Đến năm 2015, cả nước có 31 Vườn Quốc gia và hàng trăm khu bảo tồn thiên nhiên. Đặc biệt, ngày 11/01/2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 57/QĐ-TTg thành lập Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén trên cơ sở nâng hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén với diện tích 10.000 ha thuộc địa bàn 5 xã. Tại xã Vũ Nông, do áp lực từ đời sống dân sinh của cộng đồng địa phương, rừng tự nhiên bị chặt phá nhiều, khiến tính đa dạng sinh học bị suy giảm cả về số lượng lẫn chất lượng.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Xác định danh lục các loài cây thân gỗ và tính đa dạng của các loài cây tại khu vực xã Vũ Nông, Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén.
  2. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ tại địa bàn xã Vũ Nông.

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 4 nội dung chính:

  1. Xác định danh mục các loài thực vật thân gỗ tại các sinh cảnh rừng xã Vũ Nông, Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén (lập danh lục thực vật).
  2. Phân tích tính đa dạng của ngành và các đơn vị dưới ngành (bậc họ, bậc chi, phổ dạng sống, giá trị sử dụng và các loài thực vật quý, hiếm).
  3. Đánh giá những tác động của người dân tới tài nguyên rừng Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén tại xã Vũ Nông.
  4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển thực vật thân gỗ tại khu vực nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Toàn bộ các loài thực vật thân gỗ ở các sinh cảnh rừng, bao gồm cây gỗ lớn, cây gỗ vừa, cây gỗ nhỏ, thực vật thân gỗ nhóm tre trúc, song mây, cau dừa, cây bụi thân gỗ, dây leo thân gỗ, cây ký sinh và bán ký sinh trong các kiểu thảm thực vật tự nhiên.
  • Không gian nghiên cứu: Địa giới hành chính xã Vũ Nông, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén (tổng diện tích tự nhiên của xã là 3.051,33 ha).
  • Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/04/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm bản chất về đa dạng sinh học (ở 3 mức độ: đa dạng gen, đa dạng loài, đa dạng quần xã và hệ sinh thái; với 3 nhóm giá trị: kinh tế, nhân văn, tài nguyên và môi trường) cùng hai phương thức bảo tồn nền tảng: bảo tồn nội vi (In-situ conservation) và bảo tồn ngoại vi (Ex-situ conservation).

Hệ thống phân loại và tiêu chuẩn đánh giá được áp dụng thống nhất:

  • Danh lục thực vật được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Armen Takhtajan (2009). Thứ tự sắp xếp các họ trong ngành, các chi trong họ và các loài trong chi tuân thủ theo bảng chữ cái ABC.
  • Tra cứu tên khoa học dựa trên: "Cây cỏ Việt Nam" (Phạm Hoàng Hộ), "Danh lục các loài thực vật Việt Nam" (2001, 2005), "Tên cây rừng Việt Nam" (2000) và các từ điển thực vật chuyên ngành.
  • Đánh giá dạng sống thực vật thân gỗ dựa trên thang phân chia của C. Raunkiaer (1934) điều chỉnh phù hợp điều kiện Việt Nam, gồm 6 nhóm: Chồi trên to (Megaphanerophytes – Mg, cao >25m), Chồi trên vừa (Mesophanerophytes – Me, cao 8–25m), Chồi trên nhỏ (Microphanerophytes – Mi, cao 2–8m), Chồi trên lùn (Nanophanerophytes – Na, cây bụi 25cm – <2m), Thân gỗ leo (Liana phanerophytes – Lp, cao >25cm), Thân gỗ ký sinh và bán ký sinh (Parasite phanerophytes – Pp).
  • Đánh giá giá trị sử dụng chia thành 9 nhóm: Cây cho gỗ (Go), Cây làm thuốc (Th), Cây làm thức ăn/chăn nuôi (Ta), Cây làm cảnh (Ca), Cây cho tinh dầu (Td), Cây cho dầu béo (Db), Cây cho nhựa/tannin (Nt), Cây có chất độc (Do), Cây có công dụng khác (Cd – nhuộm, sợi, đan lát, cải tạo đất).
  • Đánh giá tình trạng bị đe dọa dựa trên Danh lục đỏ IUCN (2018), Sách đỏ Việt Nam phần Thực vật (2007), Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp: Tiếp cận số liệu tự nhiên, kinh tế – xã hội xã Vũ Nông năm 2017; số liệu Điều tra, kiểm kê rừng năm 2016 của Phân viện Điều tra, Quy hoạch rừng Đông Bắc Bộ; Quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén giai đoạn 2013–2020; dữ liệu ô định vị sinh thái rừng quốc gia năm 2015, 2016.
  • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn giám định và phân loại thực vật với giảng viên Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
  • Phương pháp điều tra theo tuyến (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997, 2007): Lập 04 tuyến khảo sát vuông góc với đường đồng mức, dải quan sát rộng 20m (mỗi bên 10m):
    • Tuyến 1: Phía Tây xã Vũ Nông, dài 1.240m (Điểm đầu X: 0434128, Y: 2513107; Điểm cuối X: 0434275, Y: 2513249).
    • Tuyến 2: Phía Bắc xã Vũ Nông, dài 1.052m (Điểm đầu X: 0434275, Y: 2513249; Điểm cuối X: 0434232, Y: 2513540).
    • Tuyến 3: Phía Đông xã Vũ Nông, dài 1.124m (Điểm đầu X: 0434232, Y: 2513540; Điểm cuối X: 0434386, Y: 2513907).
    • Tuyến 4: Phía Nam xã Vũ Nông, dài 1.200m (Điểm đầu X: 0434386, Y: 2513907; Điểm cuối X: 0434335, Y: 2513930).
  • Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Lập 04 OTC diện tích 2.500 m2 (kích thước 50 x 50m) chia thành 25 ô thứ cấp 100 m2 (10 x 10m) trên núi đất; hoặc OTC 500 m2 / 1.000 m2 gộp đủ 2.500 m2 trên núi đá:
    • OTC 1: X: 0434275, Y: 2513249.
    • OTC 2: X: 0434232, Y: 2513540.
    • OTC 3: X: 0434386, Y: 2513907.
    • OTC 4: X: 0434335, Y: 2513930.
  • Điều tra tác động xã hội: Sử dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (RRA) với 30 phiếu phỏng vấn bán cấu trúc (22 phiếu người dân, 08 phiếu cán bộ địa phương). Lập các ô phụ 20 x 20m và 40 x 10m cách nhau 500m trên tuyến để đo đếm dấu vết tác động cơ học và gia súc. Thang điểm đánh giá tác động gồm 4 bậc: Mức 0 (Không tác động), >0–1 (Tác động rất ít/ít gây thiệt hại), >1–2 (Tác động trung bình, không thường xuyên), >2–3 (Tác động nhiều/mạnh/thường xuyên, gây thiệt hại lớn).
  • Xử lý số liệu: Thống kê toán học lâm nghiệp trên phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của thảm thực vật thân gỗ trong việc duy trì cân bằng sinh thái toàn cầu, nhấn mạnh các hồi chuông cảnh báo từ Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất Rio de Janeiro (1992). Phần này khái quát hiện trạng mất rừng thế giới, thống kê diện tích rừng Việt Nam theo Quyết định 3158/QĐ-BNN-TCLN, Quyết định 57/QĐ-TTg ngày 11/01/2018 thành lập Vườn Quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, đồng thời xác lập mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của khóa luận trong công tác quản lý tài nguyên rừng tại xã Vũ Nông.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về thảm thực vật thân gỗ, các chỉ số đa dạng sinh học (Curtis & McIntosh 1950, phương pháp Quadrat của Mishra 1968, Rastogi 1999, Sharma 2003, báo cáo của Farjon & Page 1999 về 630 loài Thông, Kuznetsov 2011 với 3.140 loài cây gỗ nhiệt đới). Tại Việt Nam, tác giả tổng hợp nghiên cứu hình thái của Lê Mộng Chân (2000), khái niệm thực vật thân gỗ của Võ Văn Chi (2003), tài liệu cây lá kim của Nguyễn Đức Tố Lưu (2004), cấu trúc cây gỗ VQG Xuân Sơn của Nguyễn Văn Thanh (2005), thống kê 1.100 loài cây gỗ của Nguyễn Đình Hưng (1996), cùng các nghiên cứu tác động dân sinh của Trần Duy Rương (2001) tại Bến En và Nguyễn Danh (2012) tại Kon Ka Kinh.

Đồng thời, tác giả cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội xã Vũ Nông:

  • Tổng diện tích tự nhiên: 3.051,33 ha (đất ngô rẫy 413,137 ha; đất ruộng lúa 57,77 ha).
  • Khí hậu, địa hình: Địa hình đồi núi đá hiểm trở, bốn mùa sương mù bao phủ, mưa phùn kéo dài vào mùa đông và xuân, nhiệt độ trung bình 18°C, thấp nhất xuống 3°C, mùa khô hạn hán và rét đậm làm đình trệ sinh trưởng của sinh vật.
  • Dân cư, xã hội: Có 353 hộ với 05 dân tộc (chủ yếu là dân tộc Dao và Tày). Trạm Y tế xã có 01 bác sĩ đa khoa, 01 nữ hộ sinh, 01 y sinh điều dưỡng, 01 đông y.
  • Tiềm năng kinh tế: Trồng cây trúc sào thoát nghèo; tổng đàn trâu có 378 con, đàn bò có 1.037 con; tài nguyên khoáng sản quặng sắt phân bố tại các xóm Lũng Khoen, Lũng Nặm, Xí Thầu, Lũng Luông. Khó khăn chính là địa hình chia cắt, trình độ dân trí thấp và tâm lý ỷ lại vào chính sách nhà nước.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả thiết lập chi tiết quy trình điều tra thực vật học theo 3 bước chuẩn hóa của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997): xây dựng tuyến đại diện ngoài thực địa bằng GPS và địa bàn; thiết lập mạng lưới 04 OTC diện tích 2.500 m2 chia nhỏ thành các ô thứ cấp 100 m2; tiến hành định danh thực vật, thu thập mẫu tiêu bản và xử lý theo phương pháp thực vật học. Đồng thời, chương này mô tả rõ phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi RRA (30 phiếu) và hệ thống thang điểm 4 mức đánh giá tác động lâm sinh do con người và gia súc gây ra.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương 4 là phần nội dung thực nghiệm trọng tâm, công bố các dữ liệu định lượng về khu hệ thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông:

Đơn vị phân loại Số lượng Tỷ lệ (%) so với toàn hệ
Ngành 3 100,00
Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 229 loài / 157 chi / 62 họ 93,85% loài (Lớp Ngọc lan: 220 loài; Lớp Hành: 9 loài)
Ngành Thông (Pinophyta) 14 loài / 12 chi / 6 họ 5,74% loài
Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 1 loài / 1 chi / 1 họ 0,41% loài
Tổng số loài 244 loài (170 chi, 69 họ) 100,00

Cơ cấu phân loại bậc họ và chi phản ánh tính đa dạng cao của thảm thực vật:

  • Các họ giàu chi nhất: Họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) đứng đầu với 15 chi (chiếm 8,82% tổng số chi); Họ Vang (Caesalpiniaceae) có 7 chi (4,12%); Họ Đào lộn hột (Anacardiaceae) có 6 chi (3,53%); 4 họ có 5 chi gồm Trúc đào (Apocynaceae), Dâu tằm (Moraceae), Cà phê (Rubiaceae), Cau dừa (Arecaceae) (mỗi họ chiếm 2,94%); các họ có 4 chi gồm Trinh nữ (Mimosaceae), Ngũ gia bì (Araliaceae), Mua (Melastomaceae) (mỗi họ 2,35%). Có 14 họ có 3 chi (1,76%), 16 họ có 2 chi (1,17%) và 27 họ chỉ có 1 chi.
  • Các chi giàu loài nhất: Khu hệ có 27 chi chứa từ 2 loài trở lên (chiếm 55,87% tổng số chi). Dẫn đầu là chi Sung vả (Ficus – họ Moraceae) với 7 loài (4,12%); chi Chân chim (Schefflera – họ Araliaceae) có 5 loài (2,94%); 3 chi có 4 loài gồm chi Bứa (Garcinia – họ Clusiaceae), chi Dung (Elaeocarpus – họ Elaeocarpaceae) và chi Dẻ (Castanopsis – họ Fagaceae) (chiếm 2,35%/chi). Có 10 chi chứa 3 loài (1,76%) và 12 chi chứa 2 loài (1,18%).

Phổ dạng sống của khu hệ thực vật thân gỗ được xác lập qua công thức: $$Ph = 4,92Mg + 36,47Me + 40,57Mi + 8,20Na + 8,61Lp + 1,23Pp$$ Cơ cấu gồm: 99 loài chồi trên nhỏ Mi (40,57%), 89 loài chồi trên vừa Me (36,47%), 21 loài thân gỗ leo Lp (8,61%), 20 loài chồi trên lùn Na (8,20%), 12 loài chồi trên to Mg (4,92%) và 3 loài sống ký sinh hoặc bán ký sinh Pp (1,23%).

Đa dạng thực vật quý, hiếm ghi nhận tổng cộng:

  • 21 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007): 2 loài Cực kỳ nguy cấp (CR) gồm Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis) và Re hương (Cinnamomum parthenoxylon); 5 loài Nguy cấp (EN) gồm Bách xanh (Calocedrus macrolepis), Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông pà cò (Pinus kwangtungensis), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax trifoliatus), Chè hoa vàng (Camellia chrysantha); 14 loài Sắp nguy cấp (VU) gồm Thiết sam giả lá ngắn, Tuế ba lan, Thông đỏ bắc, Ba gạc vòng, Thiết đinh, Trám đen, Dẻ bắc giang, Lọ nồi hải nam, Mã tiền lông, Giổi dandy, Giổi lông, Lát hoa, Máu chó bắc bộ, Rau sắng.
  • 18 loài trong Danh lục đỏ IUCN (2018): 3 loài EN (Bách vàng, Chò chỉ tầu, Táu thị); 4 loài VU (Pơ mu, Thông đỏ bắc, Lọ nồi hải nam, Máu chó bắc bộ); 6 loài LR/Nt (Bách xanh, Thông pà cò, Tuế ba lan, Dẻ tùng sọc trắng hẹp, Muồng trắng, Kim giao núi đá); 4 loài LR/Lc (Giổi dandy, Lát hoa, Thông tre, Thông tre lá ngắn); 1 loài DD (Re hương).
  • Nghị định số 32/2006/NĐ-CP: 8 loài, gồm Nhóm IA (2 loài: Bách vàng, Thông pà cò) và Nhóm IIA (6 loài: Bách xanh, Pơ mu, Re hương, Tuế ba lan, Thông đỏ bắc, Thiết đinh).
  • Nghị định số 160/2013/NĐ-CP: 1 loài thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ là Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis).

Đa dạng về giá trị sử dụng ghi nhận 329 lượt công dụng thuộc 9 nhóm:

  • Cây làm thuốc (Th): 115 loài
  • Cây cho gỗ (Go): 88 loài
  • Cây thức ăn hoặc chăn nuôi (Ta): 50 loài
  • Cây làm cảnh (Ca): 28 loài
  • Cây có công dụng khác (Cd): 14 loài
  • Cây cho tinh dầu (Td): 13 loài
  • Cây cho nhựa, tannin (Nt): 10 loài
  • Cây cho dầu béo (Db): 6 loài
  • Cây có chất độc (Do): 5 loài

Về áp lực nhân sinh, kết quả phỏng vấn 30 phiếu và khảo sát thực địa chỉ ra các đe dọa trực tiếp: hoạt động khai thác gỗ làm nhà, củi đun, khai thác lâm sản ngoài gỗ (cây thuốc, măng tre trúc, rau sắng); phá rừng làm nương rẫy ngô (413,137 ha); chăn thả tự do 378 con trâu và 1.037 con bò làm suy thoái tầng cây tái sinh; hoạt động khai thác quặng sắt tại Lũng Khoen, Lũng Nặm, Xí Thầu, Lũng Luông.

Phần 5: Kết luận, tồn tại và đề nghị

Tác giả đúc kết toàn bộ các kết quả định lượng về thành phần loài, tính chất đa dạng, các loài nguy cấp và áp lực sinh thái; đồng thời đưa ra các đề nghị về tăng cường năng lực quản lý của Trạm Kiểm lâm và chính quyền địa phương, xây dựng quy hoạch chăn thả gia súc hợp lý và triển khai chương trình nhân giống bảo tồn các loài thực vật quý hiếm.

Kết quả và đóng góp

Kết quả then chốt của khóa luận là việc lần đầu tiên xác lập một danh mục phân loại học đầy đủ và cập nhật về thảm thực vật thân gỗ tại các sinh cảnh rừng tự nhiên xã Vũ Nông, thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén:

  • Xác định được 244 loài thực vật thân gỗ thuộc 170 chi, 69 họ của 3 ngành thực vật bậc cao có mạch.
  • Chứng minh tính ưu thế vượt trội của ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm 93,85% tổng số loài và 89,85% tổng số họ; trong khi ngành Hạt trần/Thông (Pinophyta) tuy chỉ chiếm 5,74% số loài nhưng sở hữu tỷ trọng loài quý hiếm rất cao.
  • Phát hiện và định danh 21 loài có trong Sách đỏ Việt Nam, 18 loài trong Danh lục đỏ IUCN, 8 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP và 1 loài thuộc Nghị định 160/2013/NĐ-CP (Bách vàng).
  • Lập phổ dạng sống định lượng chứng minh thảm rừng mang cấu trúc ưu thế tầng cây gỗ nhỏ (Mi chiếm 40,57%) và cây gỗ vừa (Me chiếm 36,47%), phản ánh tính chất của rừng phục hồi sau khai thác.
  • Thống kê 329 lượt công dụng, phát hiện tiềm năng lớn về cây thuốc tự nhiên (115 loài) và cây cho gỗ (88 loài).

Các giải pháp bảo tồn được tác giả đề xuất:

  1. Giải pháp quản lý và tuần tra: Tăng cường phối hợp giữa Hạt Kiểm lâm Phia Đén và chính quyền xã Vũ Nông, lập chốt bảo vệ nghiêm ngặt các tiểu khu có phân bố của các loài Cực kỳ nguy cấp như Bách vàng, Re hương, Thông pà cò, Thông đỏ bắc.
  2. Giải pháp kinh tế – xã hội: Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật bảo vệ rừng cho đồng bào dân tộc Dao và Tày; nhân rộng mô hình kinh tế trồng cây trúc sào; quy hoạch bãi chăn thả có kiểm soát đối với 1.415 con trâu bò để chấm dứt tình trạng gia súc tàn phá chồi tái sinh.
  3. Giải pháp lâm sinh và bảo tồn nguồn gen: Kết hợp bảo tồn nội vi (bảo vệ nguyên vị sinh cảnh sống tự nhiên) với bảo tồn ngoại vi (thu thập giống, nhân nuôi mô cấy, gieo ươm cây con bản địa phục vụ tái thả và phục hồi rừng).

Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận đã bổ sung dữ liệu điều tra thực địa nguyên sinh cấp xã cho Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén ngay tại thời điểm đơn vị này vừa được quy hoạch chuyển hạng thành Vườn quốc gia (đầu năm 2018), cung cấp tọa độ cụ thể của 04 tuyến điều tra và 04 ô tiêu chuẩn định vị sinh thái làm cơ sở kiểm chứng thực địa cho các nghiên cứu tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong địa giới hành chính của một xã (xã Vũ Nông) trong tổng số 5 xã thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén.
  • Thời gian điều tra thực địa tương đối ngắn (04 tháng, từ tháng 01/2018 đến tháng 04/2018), rơi vào giai đoạn mùa đông và đầu xuân có điều kiện thời tiết khắc nghiệt (sương mù dày đặc, rét đậm nhiệt độ xuống 3°C, mưa phùn), gây khó khăn cho việc thu thập đầy đủ mẫu hoa, quả phục vụ định danh hình thái.
  • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế (30 phiếu hỏi), chưa bao quát hết toàn bộ 353 hộ dân trong xã.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điều tra thực vật học trên toàn bộ diện tích 10.000 ha của Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén thuộc cả 5 xã liên quan.
  • Bố trí các đợt điều tra thực địa bổ sung vào mùa hè và mùa thu để thu thập trọn vẹn mẫu vật ở các giai đoạn sinh sản khác nhau của các loài khó định danh.
  • Đi sâu nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên, sinh thái học quần thể và kỹ thuật nhân giống sinh dưỡng đối với các loài cây hạt trần nguy cấp (Bách vàng, Bách xanh, Thông pà cò, Thông đỏ bắc).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Thực vật học tại các trường đại học khối nông – lâm – sinh vật.
  • Cán bộ kỹ thuật, lực lượng kiểm lâm tại Ban quản lý Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Cao Bằng trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa tài nguyên thực vật và lập phương án tuần tra bảo vệ rừng vùng lõi.
  • Chính quyền địa phương cấp xã/huyện trong việc hoạch định chính sách phát triển lâm nghiệp cộng đồng, gắn kết bảo tồn đa dạng sinh học với chuyển đổi cơ cấu cây trồng (cây trúc sào) và quản lý chăn nuôi gia súc.

Phần đáng tham khảo nhất trong công trình:

  • Bảng danh mục 29 loài cây quý hiếm kèm phân hạng bảo tồn chi tiết đối chiếu giữa Sách đỏ Việt Nam, Danh lục đỏ IUCN và các Nghị định 32/2006/NĐ-CP, Nghị định 160/2013/NĐ-CP.
  • Quy cách bố trí 04 tuyến điều tra kèm tọa độ GPS điểm đầu, điểm cuối và phương pháp chia ô tiêu chuẩn 2.500 m2 trên địa hình núi đất và núi đá phức tạp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khu hệ thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông ghi nhận bao nhiêu loài và cấu trúc phân loại bậc ngành như thế nào?

Theo số liệu điều tra thực địa của tác giả, khu hệ thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông ghi nhận tổng cộng 244 loài, thuộc 170 chi và 69 họ, nằm trong 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) chiếm ưu thế tuyệt đối với 229 loài (93,85% tổng số loài), 157 chi (92,35%) và 62 họ (89,85%). Ngành Thông (Pinophyta) ghi nhận 14 loài (5,74%), 12 chi (7,06%) và 6 họ (8,70%). Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) chỉ có duy nhất 1 loài (0,41%), 1 chi (0,59%) và 1 họ (1,45%).

2. Những loài thực vật nào tại khu vực nghiên cứu được xếp ở cấp độ bảo tồn nghiêm ngặt nhất theo quy định hiện hành?

Trong số các loài ghi nhận, có 2 loài được xếp ở bậc Cực kỳ nguy cấp (CR) theo Sách đỏ Việt Nam (2007) là Bách vàng (Xanthocyparis vietnamensis Farjon & Hiep) và Re hương (Cinnamomum parthenoxylon Meisn). Về mặt pháp lý, có 2 loài thuộc Nhóm IA (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP là Bách vàng và Thông pà cò (Pinus kwangtungensis Cun ex Tsiang). Đặc biệt, Bách vàng là loài duy nhất trong khu vực nghiên cứu có tên trong danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ ban hành kèm theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

3. Phổ dạng sống của thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông phản ánh đặc điểm sinh thái rừng như thế nào?

Phổ dạng sống của khu hệ được xác định theo công thức: $Ph = 4,92Mg + 36,47Me + 40,57Mi + 8,20Na + 8,61Lp + 1,23Pp$. Dữ liệu này chứng minh thảm thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông chủ yếu tập trung ở hai nhóm cây gỗ nhỏ (Mi cao 2–8m, chiếm 40,57%) và cây gỗ vừa (Me cao 8–25m, chiếm 36,47%). Tỷ lệ cây gỗ lớn trên 25m (Mg) chỉ chiếm 4,92%. Điều này phản ánh đặc trưng sinh thái của kiểu rừng thứ sinh đang trong quá trình phục hồi sau các giai đoạn bị tác động khai thác, tầng tán trên chưa phát triển tối đa.

4. Tác giả đã thiết lập hệ thống tuyến và ô tiêu chuẩn khảo sát thực địa tại các vị trí nào?

Tác giả đã lập 04 tuyến khảo sát vuông góc với đường đồng mức bao quát các sườn núi, đường dông và thung lũng: Tuyến 1 ở phía Tây (dài 1.240m), Tuyến 2 ở phía Bắc (dài 1.052m), Tuyến 3 ở phía Đông (dài 1.124m) và Tuyến 4 ở phía Nam (dài 1.200m). Trên các tuyến này, 04 ô tiêu chuẩn (OTC) định vị sinh thái diện tích 2.500 m2 được thiết lập tại các tọa độ cụ thể: OTC 1 (X: 0434275, Y: 2513249), OTC 2 (X: 0434232, Y: 2513540), OTC 3 (X: 0434386, Y: 2513907) và OTC 4 (X: 0434335, Y: 2513930).

5. Những yếu tố nhân sinh cụ thể nào được ghi nhận đang đe dọa trực tiếp tài nguyên rừng tại xã Vũ Nông?

Kết quả điều tra thực địa và phỏng vấn người dân chỉ ra 4 nguồn áp lực chính: Thứ nhất, việc khai thác gỗ tròn làm nhà ở và thu gom củi đốt phục vụ sinh hoạt. Thứ hai, áp lực từ đất sản xuất nông nghiệp với 413,137 ha nương rẫy trồng ngô nằm xen kẽ hoặc giáp ranh đất rừng. Thứ ba, tập quán chăn thả tự do đàn gia súc lớn (378 con trâu và 1.037 con bò) dẫn đến việc dẫm đạp, cọ sát và ăn cụt ngọn non của tầng cây gỗ tái sinh. Thứ tư, hoạt động khai thác khoáng sản quặng sắt tại các xóm Lũng Khoen, Lũng Nặm, Xí Thầu, Lũng Luông gây nguy cơ phá vỡ sinh cảnh tự nhiên.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đàm Trung Thành là một công trình điều tra thực vật học lâm nghiệp nghiêm túc, cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về 244 loài thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén. Nghiên cứu đã làm rõ cấu trúc phân loại học, phổ dạng sống và xác định được 21 loài thực vật quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam cùng tiềm năng to lớn của 115 loài cây làm thuốc. Các đề xuất bảo tồn nội vi kết hợp phát triển sinh kế trồng trúc sào và quy hoạch chăn thả gia súc có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý của Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén.