Đặt vấn đề Hiện nay, loài nguời ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về tầm quan trọng của đa dạng sinh học( ĐDSH), các giá trị tài nguyên của ĐDSH đối với sự sống còn của chính loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Tính đa dạng của thực vật thân gỗ có vai trò hết sức quan trọng đối với mọi sự sống và cân bằng sinh thái. Nó đảm bảo cho mọi sự sống tồn tại và bền vững trên trái đất. Tính đa dạng của thực vật thân gỗ đã và đang bị con người tác động mạnh làm thay đổi sự cân bằng sinh thái, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế sự suy giảm đó.
Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janeiro ngày 5 tháng 6 năm 1992 là tiếng chuông báo động cho tất cả các nước trên thế giới, các nhà nghiên cứu, các tầng lớp tri thức thức tình và có trách nhiệm bảo vệ lớp thảm thực vật bao phủ trái đất, trước tiên là hạn chế sự giảm tính đa dạng sinh học của nó. Đa dạng sinh học được đảm bảo thì chúng ta mới có thức ăn, có nước uống, có không khí trong lành và sự bình an của cuộc sống. Số liệu thống kê của các tổ chức IUCN, UNDP, WWF cho thấy mỗi năm trên thế giới trung bình mất đi khoảng 20 triệu ha rừng với rất nhiều nguyên do, đặc biệt là do đốt rừng làm nương rẫy (chiếm tới 50%), do nạn cháy rừng ( chiếm khoảng 23%), do khai thác quá mức (chiếm khoảng 5 – 7%) do một số nguyên nhân khác ( chiếm khoảng 8%). Nước ta là một nước có đa dạng sinh học cao và là một trong những trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng tới vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học là một yêu cầu rất cấp bách từ lâu.
Một số thành tựu đạt được như sau: Theo số liệu của Bộ NN&PTNT (Quyết định số 3158/QĐ-BNNTCLN, 2016) [7], Công bố hiện trạng rừng toàn quốc đến ngày 31/12/2015 nước ta có diện tích rừng là 14.856 ha, trong đó: h 2 Rừng tự nhiên: 10.519 ha; Rừng trồng: 3. Tính đến năm 2015 cả nước ta đã thành lập 31 Vườn Quốc gia (VQG) và hàng trăm khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) được Nhà nước công nhận (Theo quyết định Số: 57/QĐ- TTg ngày 11 tháng 01 năm 2018, Thành lập Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng trên cơ sở chuyển hạng Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng). Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén, tỉnh Cao Bằng có diện tích 10.000 ha, thuộc địa phận hiện của 5 xã đã và đang tiếp tục bảo tồn nhiều loài thực vật quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng và các hệ sinh thái độc đáo, đặc thù. do ảnh hưởng cộng đồng dân cư quanh khu vực, đến nay rừng đã bị chặt phá nhiều, đa dạng sinh học vùng Phia Oắc, Phia Đén đã và đang bị suy giảm về cả số lượng và chất lượng.
Vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng và đề xuất giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông - Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng” là thực sự cần thiết bảo tồn và phát triển các nguồn gene thực vật thân gỗ, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong khu vực và nâng cao vai trò của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc - Phia Đén đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Cao Bằng và cộng đồng dân cư sinh sống quanh khu vực này. Mục tiêu của khóa luận -Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được danh lục các loài cây thân gỗ và tính đa dạng của các loài cây tại khu vực xã Vũ Nông, khu BTTN Phia Oắc - Phia Đén - Đề xuất 1 số giải pháp bảo tồn thực vật thân gỗ tại địa bàn xã Vũ Nông h 3 1. Ý nghĩa của khóa luận - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên thực vật tại xã Vũ Nông + Khu BTTN Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng. - Ý nghĩa khoa học của khóa luận: Cung cấp kết quả nghiên cứu về tính đa dạng của thực vật thân gỗ và giải pháp bảo tồn thực vật tại xã Vũ Nông- Khu BTTN Phia Oắc – Phia Đén, tỉnh Cao Bằng cho Khu bảo tồn.
h 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Đa dạng sinh học là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở những nơi khác nhau và nó còn là sự đa dạng của các loài sinh vật sống, đa dạng trạng thái về đặc tính và chất lượng của sinh vật sống tại các sinh cảnh khác nhau. Đa dạng sinh học có 3 nhóm giá trị: giá trị kinh tế, giá trị nhân văn, giá trị tài nguyên và môi trường. Bảo tồn đã dạng sinh học được nhiều quốc gia trên thế giới chú trọng bảo tồn và quan tâm hàng đầu, đã có nhiều nước trên thế giới quản lý và bảo vệ tốt nguồn tài nguyên đa dạng sinh học, đồng thời hạn chế các hoạt động làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Vì vậy, việc tham khảo các phương thức bảo tồn nước ngoài là hết sức cần thiết cho việc bảo tồn các loài quý, hiếm, đặc hữu ở nước ta. Nước ta là một trong những nước có đa dạng sinh học cao. Nhưng, do ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế – xã hội của con người đã và đang làm cho sự đa dạng sinh học bị suy giảm một cách nhanh chóng. Nhằm hạn chế được phần nào suy giảm đa dạng đó chúng ta cần phải nghiên cứu phải nghiên cứu và đưa ra được danh mục các loài cần bảo tồn.
Chúng ta cần phải bảo vệ được đa dạng sinh học thì tương đất nước ta mới có để sử dụng, nếu chúng ta không làm tốt công tác bảo tồn thì có thể mất đi những nguồn tài nguyên không thể phục hồi hoặc có thể nhưng tái sinh trong thời gian dài. - Chúng ta bảo tồn được đa dạng sinh học là chúng ta duy trì được sự sống bền vững trên Trái Đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gene chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp tồn tại trong môi trường sống. - Được xem xét ở 3 mức độ: + Đa dạng về gene h 5 + Đa dạng về loài + Đa dạng về quần xã và hệ sinh thái - Đa dạng sinh học góp phần: + Bảo tồn sự phong phú và đa dạng nguồn gen của hệ sinh vật + Bảo vệ sự đa dạng sinh học chính là bảo tồn sự đa dạng di truyền, có rất nhiều lợi ích cho nông nghiệp, y học,. + Tạo sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên.
+ Giữ gìn lợi ích đa dạng sinh học tác động lên đời sống con người. + Giảm nguy cơ tuyệt chủng của các loài sinh vật. Vì vậy chúng ta cần phải bảo tồn đa dạng sinh học. - Bảo tồn đa dạng sinh học chính là: + Bảo vệ môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí.) + Tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các loài sinh vật (thành lập các khu dự trữ sinh vật, các công viên quốc gia.) + Sự phát triển của loài người phải hài hòa với tự nhiên.
+ Những loài sinh vật quý hiếm cần phải chú trọng và bảo tồn. + Lưu trữ nguồn gene sinh vật. + Phát triển các môi trường sống nhân tạo cho các loài sinh vật (VD như các khu bảo tồn,. + Ban hành các luật lệ và chính sách (ngăn chặn phá rừng để bảo vệ môi trường sống cho thực vật, cắm săn bắt bừa bãi các loài động vật quí hiếm.) + Thực hiện nâng cao ý thức của mọi người.
Muốn đưa ra được giải pháp bảo tồn hợp lý trước hết chúng ta cần phải có được danh mục các loài cần bảo tồn, chất lượng bảo tồn hiện tại, diện tích phải đưa giải pháp mới vào áp dụng. h 6 - Bảo tồn đa dạng sinh học có hai hình thức bảo tồn đó là: Bảo tồn nội vi hay nguyên vị (Insitu conservation) và bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị (Exsitu conservation). + Bảo tồn nội vi bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tượng cần bảo tồn mà áp dụng các hình thức quản lý phù hợp.
Thông thường bảo tồn nội vi được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. + Bảo tồn ngoại vi bao gồm các vườn thực vật (VTV), vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy. Các biện pháp như di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng.
Ở đề tài này tôi đặc biệt chú tâm đến các loài thực vật thân gỗ tại xã Vũ Nông - Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Đén - Phia Oắc - Nguyên Bình - Cao Bằng. Trong khu vực nghiên cứu này còn có nhiều loài cây thân gỗ quý hiếm như: Re hương, Dẻ tùng sọc trắng, Giổi Dandii, Dẻ bắc giang, Thông tre, … 2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 2.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2. Nghiên cứu về thực vật thân gỗ Kuznetsov A.
và cs (2011) [13], đã nghiên cứu các kiểu rừng trong nhiệt đới gió mùa điển hình. Kết quả đã thống kê được những cây gỗ thuộc 119 họ thực vật, trong đó có 8 họ hạt trần, 110 họ thực vật có hoa và 1 họ h 7 thực vật bào tử. Từ 119 họ, có tới 3140 loài cây gỗ, đặc biệt có 10 họ với số lượng loài rất lớn (1720 loài) cùng với 10 chi lớn nhất chứa 574 loài. Một nhóm chuyên gia Thông của IUCN/SSC đã công bố Hiện trạng và Kế hoạch bảo tồn của nhóm (Farjon & Page, 1999) [18].