mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý”. Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một 13 nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500- 2000 loài (Nguyễn Việt Bách, 2011) [1].
Nghiên cứu về hệ thực vật, ngoài tiêu chí đầu tiên là đa dạng về thành phần loài và trên loài thì các đặc điểm quan trọng khác như dạng sống, yếu tố địa lý, di truyền, lịch sử và công dụng cũng được các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu. Nghiên cứu về phân loại dạng sống ở trên thế giới điển hình là cách phân loại, lập phổ dạng sống của Raunkiaer (1934) [101]. Theo Raunkiaer dấu hiệu biểu thị để phân loại được chọn là vị trí của chồi so với mặt đất trong thời gian bất lợi của năm. Hệ thống phân loại đó có thể được trình bày tóm tắt như sau: - Nhóm cây chồi trên (Phanerophytes) - Ký hiệu Ph, nhóm này được chia thành: + Megaphanerophytes - Cây chồi trên lớn - Ký hiệu là Mg + Mesophanerophytes - Cây chồi trên vừa - Ký hiệu là Me + Microphanerophytes - Cây chồi trên nhỏ - Ký hiệu là Mi + Nanophanrophytes - Cây chồi trên lùn - Ký hiệu là Na Ngoài ra, sau khi nghiên cứu ở các khu vực nhiệt đới ẩm, Raunkiær còn bổ sung thêm các dạng khác gồm: Lianas phanerophytes - Cây chồi trên leo quấn, sống lâu năm - Ký hiệu Lp, Epiphytes phanerophytes - Cây bì sinh sống lâu năm - Ký hiệu là Ep, Herb phanerophytes - cây thân thảo sống lâu năm - Ký hiệu là Hp, Parasit-hemiparasit phanerophytes - Cây ký sinh, bán ký sinh sống lâu năm - Ký hiệu là Pp, Succelent phanerophytes - Cây mọng nước sống lâu năm - Ký hiệu là Sp.
- Nhóm cây chồi sát đất (Chamaephytes) - Ký hiệu Ch; - Nhóm cây chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes) - Ký hiệu Hm; - Nhóm cây chồi ẩn (Cryptophytes) - Ký hiệu Cr; - Nhóm cây chồi một năm (Therophytes) - Ký hiệu Th. Raunkiær đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vùng khác nhau trên thế giới và tìm được tỉ lệ phần trăm bình cách (vai trò ngang nhau) cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn SN-Phổ dạng sống điển hình (Natural Spectrum) và công thức phổ dạng sống là SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th. Phổ dạng sống của các vùng được kí hiệu là SB (Spectrum of Biology). 14 Thường ở vùng nhiệt đới ẩm, nhóm cây chồi trên (Ph) chiếm khoảng 80%, nhóm cây chồi sát đất (Ch) khoảng 20%, những nhóm khác hầu như không có.
Trái lại, ở các vùng khô hạn thì nhóm cây một năm (Th) và nhóm cây chồi ẩn (Cr) lại có tỷ lệ khá cao còn nhóm cây chồi trên (Ph) thì giảm xuống. Ngoài dạng sống, khi nghiên cứu về hệ thực vật, địa lý thực vật là nội dung cần quan tâm với các nhà khoa học. Mỗi hệ thực vật gồm nhiều yếu tố địa lý khác nhau mà thường được chia thành hai yếu tố chính là đặc hữu và di cư. Tại khu vực Đông Dương có thể kể đến các công trình nghiên cứu về vấn đề này của Gagnep (1926).
Tác giả đã xếp thực vật ở khu vực này thành 5 nhóm yếu tố: Yếu tố đặc hữu bản địa (11,9%), yếu tố Trung Quốc (33,8%), yếu tố Xích kim - Himalaya (18,5%), yếu tố Malaysia và nhiệt đới (15,0%), yếu tố phân bố rộng và nhập nội (20,8%).