Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh biến động kinh tế sâu rộng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2012–2013 ghi nhận mức tăng trưởng GDP chậm lại, lần lượt đạt 5,03% và 5,42%. Kéo theo đó là làn sóng thanh lý, phá sản quy mô lớn với 60.737 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động trong năm 2013 theo số liệu chính thức từ Tổng cục Thống kê. Thực trạng này đặt ra một câu hỏi học thuật và thực tiễn cấp bách: Liệu Báo cáo tài chính (BCTC) lập theo giả định hoạt động liên tục của các đơn vị sắp chấm dứt sự tồn tại có còn cung cấp giá trị thông tin trung thực cho hơn 90% nhà đầu tư và chủ nợ hay không?

Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán của tác giả Nguyễn Thái Toàn (năm 2014, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh) đã tập trung giải quyết khoảng trống lý luận và thực hành kế toán đối với trường hợp vi phạm giả định hoạt động liên tục tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc hệ thống hóa các chuẩn mực quốc tế của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) và Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Hoa Kỳ (FASB), khảo sát thực trạng quy định pháp lý trong nước và đề xuất giải pháp lập, trình bày BCTC thanh lý. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian kinh tế Việt Nam năm 2014 đối với các loại hình doanh nghiệp ngoài khu vực hành chính sự nghiệp, ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Ý nghĩa của đề tài thể hiện ở việc lấp đầy 100% khoảng trống của Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS), giúp nâng cao tính minh bạch tài chính và hỗ trợ công tác quyết toán thuế trong thời hạn luật định 45 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên sự kết hợp của hai hệ thống lý thuyết chuẩn mực kế toán hiện đại:

Thứ nhất, Khuôn mẫu lý thuyết kế toán năm 2010 của IASB, xác định mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích cho các bên liên quan thông qua hai đặc tính chất lượng nền tảng: tính thích hợp (gồm giá trị dự đoán, giá trị xác thực) và trình bày trung thực (đầy đủ, trung lập, không có sai sót). Chuẩn mực IAS 1 và IAS 10 khẳng định rõ ràng khi tình hình tài chính sụt giảm nghiêm trọng sau niên độ kế toán, doanh nghiệp không được lập BCTC theo cơ sở hoạt động liên tục mà bắt buộc phải chuyển sang một cơ sở kế toán khác.

Thứ hai, Lý thuyết kế toán theo cơ sở thanh lý (Liquidation Basis of Accounting) của US GAAP, cụ thể là bản cập nhật ASC 205-30 (ban hành ngày 22/4/2012, hiệu lực sau ngày 15/12/2013) và ASC 205-40 (ban hành ngày 27/8/2014) về công bố những yếu tố không chắc chắn. Khung lý thuyết này định hình 5 khái niệm chuyên sâu: Giả định hoạt động liên tục (Going Concern), Kế toán dồn tích (Accrual Basis), Kế toán thanh lý (Break-up/Liquidation Basis), Giá trị ước tính thu hồi thuần và Nghĩa vụ nợ dồn tích ước tính. Khác biệt với mô hình giá trị hợp lý theo ASC 820 đòi hỏi điều kiện giao dịch thông thường, kế toán thanh lý đo lường tài sản theo số tiền thực tế mong đợi thu được trong bối cảnh giải thể bắt buộc hoặc tự nguyện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính kết hợp khảo sát thực chứng chuyên sâu:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập và phân tích từ hệ thống văn bản pháp quy Việt Nam, bao gồm Luật Doanh nghiệp 2005 (Điều 157 đến 165), Luật Phá sản 2004, Luật Quản lý thuế số 78/2006, Luật Kế toán 2003, Nghị định 83/2013 và Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 570. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu khảo sát cấu trúc gửi tới 85 chuyên gia kế toán, kiểm toán viên hành nghề và giảng viên đại học tại TP. Hồ Chí Minh trong năm 2014.

Phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp lựa chọn chuyên gia am hiểu sâu được áp dụng để đảm bảo độ tin cậy và chiều sâu chuyên môn của dữ liệu. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp thống kê mô tả là nhằm làm rõ 100% sự tương thích và bất cập giữa hệ thống Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS 01, VAS 21) với chuẩn mực quốc tế IAS và US GAAP. Toàn bộ quá trình tổng hợp dữ liệu và phân tích đối chiếu được tiến hành trong mốc thời gian năm 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại khoảng trống pháp lý tuyệt đối trong hệ thống kế toán Việt Nam. Mặc dù Đoạn 4 Chuẩn mực Kế toán số 01 (VAS 01) yêu cầu doanh nghiệp phải lập BCTC theo một cơ sở khác khi vi phạm giả định hoạt động liên tục, nhưng hệ thống văn bản hiện hành hoàn toàn không có thông tư hướng dẫn cụ thể về biểu mẫu và phương pháp hạch toán, gây lúng túng cho 100% người hành nghề kế toán.

Thứ hai, sự xung đột và kẽ hở giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Phá sản 2004 dẫn đến tình trạng doanh nghiệp trốn tránh trách nhiệm. Quy định tại Khoản 6 Điều 158 và Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2005 cho phép xóa tên doanh nghiệp sau 6 tháng ngừng hoạt động hoặc bị thu hồi giấy phép đã khiến hơn 70% doanh nghiệp giải thể chọn cách tự biến mất khỏi thị trường mà không lập BCTC thanh lý minh bạch, gây thất thu nghiêm trọng cho ngân sách nhà nước.

Thứ ba, sự thay đổi toàn diện trong đo lường các khoản mục tài chính khi áp dụng cơ sở thanh lý theo chuẩn mực US GAAP ASC 205-30. Toàn bộ 100% tài sản phải được định giá lại theo số tiền mong đợi thu được khi bán, các khoản chi phí trả trước ngắn hạn và dài hạn bị xóa sổ hoàn toàn, đồng thời cho phép ghi nhận bổ sung các tài sản vô hình tự tạo như thương hiệu, bằng sáng chế theo giá trị thanh lý ước tính.

Thứ tư, tái cấu trúc hệ thống báo cáo tài chính khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động. Thay vì sử dụng bộ 4 báo cáo truyền thống, kế toán thanh lý đòi hỏi 2 biểu mẫu bắt buộc: Báo cáo tài sản thuần khi thanh lý và Báo cáo biến động tài sản thuần khi thanh lý, đi kèm yêu cầu trích trước các khoản chi phí dự kiến phát sinh trong suốt thời gian thanh lý.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những bất cập trên là do hệ thống kế toán Việt Nam được xây dựng theo cơ chế dựa trên quy tắc (rule-based) thay vì dựa trên nguyên tắc (principle-based) linh hoạt của US GAAP, dẫn đến sự thụ động khi thiếu các chế độ kế toán cụ thể. So sánh với nghiên cứu của Nirosh Kuruppu và cộng sự (2003) trên mẫu 135 công ty niêm yết tại New Zealand, kết quả cho thấy mô hình dự đoán phá sản truyền thống không phát huy hiệu quả tại các quốc gia có hệ thống pháp luật định hướng bảo vệ chủ nợ. Đồng thời, các công trình của Nguyễn Phú Giang (2009) về doanh nghiệp giải thể và Nguyễn Hữu Quy (2013) về doanh nghiệp phục hồi sau phá sản chỉ mới tiếp cận các nghiệp vụ hạch toán đơn lẻ mà chưa hoàn thiện được hệ thống báo cáo tài chính tổng thể.

Dữ liệu nghiên cứu được lượng hóa và trình bày cụ thể thông qua Bảng so sánh 7 tiêu chí khác biệt giữa giải thể (thủ tục hành chính) và phá sản (thủ tục tư pháp), cùng Bảng đối chiếu quy định giữa VAS, IAS và US GAAP. Việc chuyển đổi sang cơ sở thanh lý giúp giảm trên 50% nguy cơ ghi nhận khống giá trị tài sản không còn khả năng sinh lời, bảo vệ tối đa quyền đòi nợ hợp pháp của các chủ nợ theo thứ tự ưu tiên luật định.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và thực hành kế toán khi giả định hoạt động liên tục bị vi phạm, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao:

  • Ban hành Thông tư hướng dẫn Chế độ kế toán thanh lý: Bộ Tài chính cần chủ trì xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể cơ sở kế toán thanh lý trước năm 2020, chuẩn hóa 2 biểu mẫu gồm Mẫu Báo cáo tài sản thuần khi thanh lý và Mẫu Báo cáo biến động tài sản thuần khi thanh lý áp dụng cho 100% doanh nghiệp giải thể, phá sản.
  • Hoàn thiện hệ thống Chuẩn mực Kế toán (VAS 01, VAS 21): Bổ sung quy định bắt buộc Ban Giám đốc phải thực hiện đánh giá khả năng hoạt động liên tục trong khung thời gian 12 tháng tiếp theo kể từ ngày lập BCTC, vận dụng chuẩn mực ASC 205-40 để yêu cầu công bố thuyết minh đầy đủ khi xuất hiện nghi ngờ đáng kể trong giai đoạn 2015–2020.
  • Rút gọn quy trình quyết toán thuế và giải thể: Tổng cục Thuế phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chuẩn hóa quy trình thanh tra thuế trong hạn định 45 ngày theo Thông tư 156/2013, đồng thời bãi bỏ các kẽ hở tại Điều 158 và Điều 165 Luật Doanh nghiệp nhằm giảm thiểu trên 80% tình trạng doanh nghiệp bỏ trốn nghĩa vụ tài chính.
  • Nâng cao năng lực chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp: Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam (VAA) cùng Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) triển khai chương trình tập huấn Chuẩn mực kiểm toán 570 cho hơn 5.000 kiểm toán viên trước năm 2018, đồng thời đưa chuyên đề kế toán thanh lý vào chương trình giảng dạy chính quy tại các trường đại học khối kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn to lớn cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Kế toán trưởng và Giám đốc tài chính doanh nghiệp: Nắm vững quy trình chuyển đổi cơ sở kế toán từ dồn tích sang thanh lý, kỹ thuật định giá lại tài sản thu hồi ước tính và lập hồ sơ quyết toán thuế 45 ngày khi giải thể.
  • Kiểm toán viên độc lập và các Công ty kiểm toán: Tham khảo quy trình nhận diện dấu hiệu suy giảm hoạt động liên tục theo Chuẩn mực kiểm toán 570 để phát hành báo cáo kiểm toán chuẩn xác khi doanh nghiệp có nghi ngờ trọng yếu trong vòng 1 năm.
  • Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tòa án nhân dân): Sử dụng luận cứ khoa học để hoàn thiện Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản và ban hành chế độ kế toán mới phù hợp với thực tiễn chấm dứt hoạt động tại Việt Nam.
  • Giảng viên, Nhà nghiên cứu và Học viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Khai thác hơn 100 trang tư liệu so sánh chuyên sâu giữa chuẩn mực VAS, IASB và US GAAP làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp bị xác định là vi phạm giả định hoạt động liên tục trong trường hợp nào? Doanh nghiệp vi phạm khi có kế hoạch hoặc buộc phải giải thể, phá sản hoặc thu hẹp phần lớn quy mô hoạt động. Các dấu hiệu nhận diện gồm dòng tiền kinh doanh âm liên tục 2 năm, nợ phải trả vượt quá vốn chủ sở hữu và mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ yêu cầu.

Cơ sở kế toán nào được áp dụng thay thế khi vi phạm giả định hoạt động liên tục? Doanh nghiệp phải chuyển sang áp dụng cơ sở kế toán thanh lý (liquidation basis). Toàn bộ tài sản được đo lường theo số tiền ước tính có thể thu hồi khi thanh lý và nợ phải trả bao gồm toàn bộ các nghĩa vụ hiện tại cùng chi phí dồn tích ước tính phát sinh trong suốt quá trình chấm dứt hoạt động.

Điểm khác biệt căn bản giữa giải thể và phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam là gì? Giải thể là thủ tục hành chính do chủ sở hữu tự quyết định và bắt buộc phải thanh toán hết 100% các khoản nợ. Phá sản là thủ tục tư pháp do Tòa án thụ lý khi mất khả năng chi trả, có quy trình phục hồi hoạt động kinh doanh và tài sản được thanh lý theo thứ tự ưu tiên luật định.

Tại sao các khoản chi phí trả trước phải bị xóa sổ khi áp dụng cơ sở kế toán thanh lý? Theo hướng dẫn của chuẩn mực ASC 205-30, các khoản chi phí trả trước ngắn hạn và dài hạn như tiền thuê địa điểm hay bảo hiểm không thể chuyển hóa thành tiền mặt độc lập trong điều kiện thanh lý, do đó không thỏa mãn định nghĩa tài sản và phải được ghi giảm toàn bộ vào chi phí kỳ thanh lý.

Báo cáo tài chính theo cơ sở kế toán thanh lý gồm những biểu mẫu chủ đạo nào? Hệ thống BCTC thanh lý tối thiểu bao gồm 2 biểu mẫu: Báo cáo tài sản thuần khi thanh lý (phản ánh nguồn lực còn lại sau khi trừ đi tất cả nghĩa vụ nợ) và Báo cáo biến động tài sản thuần khi thanh lý (ghi nhận các biến động tăng giảm tài sản thuần trong suốt tiến trình giải thể).

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thái Toàn đã giải quyết trọn vẹn bài toán lý luận và thực tiễn về kế toán cho doanh nghiệp chấm dứt hoạt động tại Việt Nam:

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giả định hoạt động liên tục và chuẩn mực kế toán thanh lý của IASB và US GAAP.
  • Làm rõ 100% khoảng trống pháp lý của Chuẩn mực Kế toán Việt Nam khi thiếu vắng hướng dẫn cụ thể cho hơn 60.000 doanh nghiệp giải thể mỗi năm.
  • Phân tích sâu sắc sự tương đồng và khác biệt giữa thủ tục hành chính giải thể và thủ tục tư pháp phá sản.
  • Thiết lập hoàn chỉnh quy trình lập 2 biểu mẫu BCTC thanh lý và phương pháp định giá tài sản theo giá trị thu hồi ước tính.
  • Đề xuất lộ trình 2 giai đoạn hoàn thiện thể chế kế toán, kiểm toán và quản lý thuế trước và sau năm 2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là đặt nền tảng học thuật vững chắc cho việc ban hành Chế độ kế toán thanh lý tại Việt Nam. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và chuyên gia tài chính có thể khai thác toàn văn luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác quản trị, kiểm toán và hoạch định chính sách kế toán hiện đại.