CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH KHI GIẢ ĐỊNH HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC BỊ VI PHẠM 1.1 Một số vấn đề chung về Báo cáo tài chính 1.1 Khái niệm Báo cáo tài chính Đoạn 9 của Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS1 đã đưa ra khái niệm về BCTC như sau: BCTC là một sự trình bày có cấu trúc về tình hình tài chính và kết quả tài chính của một doanh nghiệp. Mục tiêu của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, kết quả tài chính và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. BCTC cũng cho thấy trách nhiệm quản lý của ban giám đốc đối với các nguồn lực được giao phó cho họ. Để đáp ứng mục tiêu này thì BCTC sẽ cung cấp các thông tin về: tài sản; nợ phải trả; vốn chủ sở hữu; thu nhập và chi phí, bao gồm lãi và lỗ; vốn góp của chủ sở hữu và phân phối cho chủ sở hữu; dòng tiền.
Các thông tin này cùng với những thông tin khác trong thuyết minh BCTC giúp cho các đối tượng sử dụng BCTC trong việc dự đoán các dòng tiền tương lai của doanh nghiệp, đặc biệt là việc tính toán thời gian và sự chắc chắn của các dòng tiền.2 Mục đích và đối tượng sử dụng Báo cáo tài chính 1.1 Mục đích của Báo cáo tài chính Mục đích của BCTC là một trong những vấn đề quan trọng trong việc cấu thành khuôn mẫu lý thuyết kế toán. Chính vì thế vấn đề này sớm được trình bày trong khuôn mẫu lý thuyết của 2 tổ chức hàng đầu về kế toán là Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) và Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Hỳ (FASB). Hai tổ chức này đã tham gia một dự án chung nhằm thảo luận và tiến tới hội tụ các vấn đề kế toán từ năm 2004. Đến tháng 9 năm 2010 thì dự án hội tụ về khuôn mẫu lý thuyết của IASB và FASB đã hoàn thành giai đoạn A trong 8 giai đoạn.
Theo đó, mục đích của BCTC được 2 tổ chức này xác định là: "để cung cấp thông tin tài chính về doanh nghiệp báo cáo mà hữu ích cho những nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác hiện hữu và tiềm năng trong việc ra quyết định về việc cung cấp các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 nguồn lực cho doanh nghiệp. Những quyết định này bao gồm mua, bán hoặc nắm giữ các công cụ nợ và vốn, và cung cấp hoặc thu hồi các khoản cho vay hoặc các dạng tín dụng khác".2 Đối tượng sử dụng Báo cáo tài chính Có rất nhiều đối tượng sử dụng BCTC. Nếu như FASB cho rằng đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu là nhà đầu tư và chủ nợ hiện hữu/tiềm năng thì IASB lại liệt kê rất nhiều đối tượng sử dụng BCTC. Đó là nhà đầu tư và nhà tư vấn của họ; chủ nợ và nhà cung cấp; nhân viên và đại diện của họ; khách hàng; nhà nước và cơ quan hữu quan; công chúng.
Các đối tượng mà BCTC phục vụ có thể được gọi chung là các bên liên quan. Có nhiều phân loại về đối tượng sử dụng BCTC như là người sử dụng trực tiếp và gián tiếp (Riahi-Belkaoui, 2004); nhà quản lý và các bên liên quan (Sterling, 1970); nhà quản lý hiện hữu và tiềm năng (Edwards & Bell, 1961). Đối với mỗi nhóm đối tượng thì lại quan tâm BCTC ở một khía cạnh khác nhau, phụ thuộc vào mục đích sử dụng thông tin của từng đối tượng (Xem phụ lục I). Cho nên BCTC không thể đáp ứng được thông tin của tất cả các đối tượng này.
Do đó, cần phải xác định ai là đối tượng ưu tiên mà BCTC sẽ phục vụ. Để có được quan điểm chung về vấn đề này thì dự án hội tụ Khuôn mẫu lý thuyết của IASB và FASB đã thống nhất đối tượng sử dụng BCTC là các nhà đầu tư, người cho vay và các chủ nợ khác hiện hữu/tiềm năng.3 Các đặc điểm chất lượng của Báo cáo tài chính Theo khuôn mẫu lý thuyết về BCTC năm 2010 của IASB thì thông tin của BCTC mà được xem là hữu ích thì phải hội đủ 2 yếu tố gồm: thích hợp và trình bày trung thực. Thích hợp (Relevance): Thông tin được xem là thích hợp khi nó có thể tạo ra sự khác biệt trong quyết định của người sử dụng BCTC. Để tạo ra sự khác biệt trong quyết định thì thông tin sẽ có giá trị dự đoán; xác thực hoặc cả hai.
Giá trị dự đoán (Predictive value): Thông tin tài chính được xem là có giá trị dự đoán nếu có thể được sử dụng để dự đoán kết quả trong tương lai bởi người sử dụng BCTC. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Xác thực (Confirmatory value): Thông tin tài chính có giá trị xác thực nếu cung cấp các thông tin phản hồi (xác thực hoặc thay đổi) về các đánh giá trước đó. Trọng yếu (Materiality): Trọng yếu cũng là một khía cạnh của tính thích hợp mà nó tùy thuộc vào tính chất và mức độ của khoản mục được đề cập. Vì vậy, IASB không xác định một ngưỡng định lượng thống nhất cho trọng yếu hay đưa ra trước những gì có thể là trọng yếu.
Thông tin được xem là trọng yếu nếu việc bỏ sót hay làm sai lệch thông tin đó có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin tài chính về đơn vị báo cáo. Trình bày trung thực (Faithful representation): Thông tin được coi là trung thực thì phải đáp ứng 3 tính chất là: đầy đủ, trung lập và không có sai sót Đầy đủ (Complete): Phản ảnh đầy đủ các thông tin cần thiết cho người đọc hiểu được hiện tượng kinh tế, bao gồm các diễn giải cần thiết. Đối với một số khoản mục, thông tin đầy đủ cũng đòi hỏi có sự giải thích các sự kiện quan trọng về chất lượng và tính chất của khoản mục, các yếu tố và điều kiện ảnh hưởng đến bản chất của khoản mục. Trung lập (Neutral): Thông tin trung lập khi không có sự thiên vị trong việc lựa chọn hoặc trình bày, không bị thiên lệch nhằm đạt đến một kết quả định trước hay chịu ảnh hưởng của một thái độ cá biệt.
Không có sai sót (Free from error): Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và quá trình được dùng để cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và được áp dụng là không có sai sót. Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh. Ngoài 2 đặc tính cơ bản là thích hợp và trình bày trung thực được nêu trên thì còn có các đặc tính định tính góp phần làm tăng tính hữu ích của thông tin trên BCTC là: có thể so sánh, có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu. Có thể so sánh (Comparability): Người sử dụng BCTC quyết định lựa chọn nhiều phương án.
Do đó, thông tin về đơn vị báo cáo sẽ hữu ích hơn nếu có thể so sánh các thông tin tương tự với đơn vị khác hoặc các thông tin tương tự của đơn vị giữa các kỳ và các thời điểm khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Có thể kiểm chứng (Verifiability): Kiểm chứng giúp đảm bảo cho những người sử dụng BCTC là thông tin về giao dịch kinh tế được trình bày trung thực và đúng mục đích. Kiểm chứng được có nghĩa là những người sử dụng BCTC có kiến thức và độc lập khác nhau có thể nhất trí rằng một mô tả cụ thể là đáng tin cậy. Kịp thời (Timeliness): Kịp thời nghĩa là thông tin luôn sẵn có để giúp những người sử dụng BCTC kịp đưa ra các quyết định.
Thông thường, thông tin cũ thì sẽ kém hữu ích hơn. Tuy nhiên, một số thông tin có thể vẫn hữu ích lâu sau khi kết thúc kỳ báo cáo, bởi vì người sử dụng cần các thông tin để xác định và đánh giá xu hướng phát triển. Có thể hiểu (Understandability): Có thể hiểu là việc thông tin được phân loại và trình bày đặc trưng một cách rõ ràng và chính xác. BCTC được trình bày cho người sử dụng là những người có kiến thức nhất định về kinh doanh và hoạt động kinh tế cũng như có khả năng nhất định trong đánh giá và phân tích thông tin.
Một số hiện tượng vốn nó đã phức tạp và rất khó để có thể dễ hiểu. Việc loại trừ những hiện tượng này ra khỏi BCTC có thể làm cho thông tin dễ hiểu hơn. Tuy nhiên, điều này làm cho báo cáo trở nên không đầy đủ và do đó, có thể gây hiểu nhầm.4 Các cơ sở để lập Báo cáo tài chính Cơ sở dồn tích (Accrual basis): Khi áp dụng kế toán dồn tích thì các nghiệp vụ kinh tế được ghi nhận khi chúng phát sinh, chứ không căn cứ vào thời điểm thực tế thu tiền hoặc chi tiền. Cụ thể là: Doanh thu được ghi nhận khi lợi ích và rủi ro gắn liền với quyền sở hữu của người bán chuyển cho bên mua, không phải khi người bán đã nhận tiền thanh toán của người mua hàng.
Chi phí được ghi nhận khi hàng hoá hay dịch vụ được tiêu thụ, không phải tại thời điểm mà chi tiền để thanh toán cho việc sử dụng hàng hoá, dịch vụ này. BCTC được lập theo cơ sở dồn tích cung cấp thông tin về các giao dịch quá khứ và các nguồn lực tương lai. Cụ thể là nguồn lực đi vào doanh nghiệp (khi khách hàng thanh toán tiền) và nguồn lực đi ra khỏi doanh nghiệp (doanh nghiệp thanh toán cho các nhà cung cấp). Chính vì thế mà thông tin của BCTC được lập theo cơ sở dồn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 tích sẽ rất hữu ích cho việc ra quyết định.
Trong BCTC thì bảng Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập theo cơ sở dồn tích. Hoạt động liên tục (Going concern basis): BCTC theo cơ cở dồn tích sẽ sử dụng một giả định hết sức quan trọng, đó là giả định HĐLT. Đây cũng là một giả định cơ bản trong lý thuyết kế toán và được quy định trong khuôn mẫu lý thuyết kế toán của IASB và FASB. Theo giả định này thì BCTC được lập theo giả định là doanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động trong một tương lai có thể nhìn thấy được (tương lai gần).
Cơ sở tiền (Cash basis): Cơ sở này được xem là đối lập với cơ sở dồn tích. Trong BCTC thì chỉ có Lưu chuyển tiền tệ được lập theo cơ sở tiền.