Chương 1 : Tổng quan nghiên cứu về an toàn mạng. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực trạng của an toàn mạng tại công ty cổ phần kỹ thuật số Sài Gòn. Chương 3: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn cho công ty cổ phần kỹ thuật số Sài Gòn. Khóa luận tốt nghiệp 6 SV: Tạ Thu Trang Luan van GVHD:ThS Lê Thị Thu CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG AN TOÀN MẠNG TẠI CÔNG TY.
Cơ sở lý luận về an toàn mạng. Khái niệm an toàn mạng An toàn mạng là các giải pháp bảo vệ mạng máy tính, bảo vệ các ứng dụng trên mạng, phòng chống các thay đổi, phá hoại, xâm nhập trái phép vào hệ thống mạng. An toàn mạng còn bao hàm việc đảm bảo cho mạng hoạt động ổn định, các chức năng then chốt hoạt động chính xác và không bị các tác động có hại từ bên ngoài. (Nguồn : “An ninh an toàn mạng là gì”, http://www.com/nguyen_anh_dung) 2.
Một số lý thuyết về an toàn mạng 2. Thủ tục an toàn mạng Thủ tục là các bước thực hiện dựa trên chính sách đã đặt ra. Chẳng hạn như việc thực hiện các chương trình trên mạng, việc nối vào hệ thống từ nhà hay việc mã hóa và xác thực khi kết nối vào mạng từ xa, việc cấu hình, giám sát mạng,… Người quản trị mạng là người giữ vai trò chủ chốt trong việc đảm bảo an toàn mạng; là người luôn luôn phải kiểm tra cho những yêu cầu: Đảm bảo tất cả các tài khoản đều phải có mật khẩu và các mật khẩu phải có độ an toàn cao, khó phá. Mật khẩu dùng một lần là an toàn nhất.
Dùng các công cụ mã hóa để đảm bảo tính toàn vẹn của hệ thống. Dùng các kỹ thuật lập trình an toàn để phát triển phần mềm. Luôn cảnh giác khi phát hiện lỗ hổng an ninh, sớm khắc phục bằng cách nâng cấp hệ thống hay vá lỗ hổng kịp thời. Luôn luôn kiểm tra hệ thống bảo vệ, thường xuyên cập nhật các cảnh báo về an toàn từ các trung tâm CERT khu vực và thế giới.
Thường xuyên kiểm tra nhật ký hệ thống, nhằm sớm phát hiện dấu vết từ kẻ đột nhập. Khóa luận tốt nghiệp 7 SV: Tạ Thu Trang Luan van GVHD:ThS Lê Thị Thu 2. Phân loại các phương thức tấn công mạng phổ biến. Viruses, worms và Trojan horse.
Virus máy tính: là những chương trình hay đoạn mã được thiết kế để tự nhân bản và sao chép chính nó vào các đối tượng lây nhiễm khac(file, ổ đĩa, máy tính,…) thời gian gần đây không còn thực hiện các trò đùa hay sự phá hoại đối máy tính của nạn nhân bị lây nhiễm nữa, mà đa phần hướng đến việc lấy cắp các thông tin cá nhân nhạy cảm (các mã số thẻ tín dụng) mở cửa sau cho tin tặc đột nhập chiếm quyền điều khiển hoặc các hành động khác nhằm có lợi cho người phát tán virus. Điểm cần lưu ý ở đây, ngoài tác hại thẳng lên máy bị nhiễm, nhiệm vụ chính của worm là phá các mạng thông tin, làm giảm khả năng hoạt động hay ngay cả hủy hoại các mạng này. Nhiều nhà phân tích cho rằng worm khác với virus, họ nhấn mạnh vào đặc tính phá hoại mạng nhưng ở đây worm được là một loại virus đặc biệt. Trojan horse là một phần mềm không có khả năng tự nhân bản nhưng là một loại virus có khả năng thâm nhập trực tiếp vào hệ điều hành mà không để lại dấu vết.
Trojan horse là chương trình máy tính thường ẩn mình dưới dạng một chương trình hữu ích và có những chức năng mong muốn, hay ít nhất chúng trông như có các tính năng này. Một cách bí mật, nó lại tiến hành các thao tác khác không mong muốn. Những chức năng mong muốn chỉ là phần bề mặt giả tạo nhằm che dấu cho các thao tác này. Trong thực tế, nhiều Trojan horse chứa đựng các phần mềm gián điệp nhằm cho phép máy tính thân chủ bị điều khiển từ xa qua hệ thống mạng.
Ngoài ra còn có các loại phần mềm độc hại khác như spyware, adware, … Giả mạo địa chỉ. Việc giả mạo địa chỉ IP có thể được thực hiện thông qua việc sử dụng khả năng dẫn đường trực tiếp (source-routing). Với cách tấn công này, kẻ tấn công gửi các gói tin IP tới mạng bên trong với một địa chỉ IP giả mạo (thông thường là địa chỉ của một mạng hoặc Khóa luận tốt nghiệp 8 SV: Tạ Thu Trang Luan van GVHD:ThS Lê Thị Thu một máy được coi là an toàn đối với mạng bên trong), đồng thời chỉ rõ đường dẫn mà các gói tin IP phải gửi đi. Tấn công từ chối dịch vụ (denial of service).
Tấn công từ chối dịch vụ (DOS - Denial Of Service, DDOS – Distributed DOS hay DR DOS - Distributed Reflection Denial of Service) là kiểu tấn công khiến một hệ thống máy tính hoặc một mạng bị quá tải, dẫn tới không thể cung cấp dịch vụ hoặc phải dừng hoạt động. Sơ khai nhất là hình thức DoS, lợi dụng sự yếu kém của giao thức TCP, tiếp đến là DDoS - tấn công từ chối dịch vụ phân tán, và gần đây là DRDoS - tấn công theo phương pháp phản xạ phân tán. Lỗi của người quản trị hệ thống. Đây không phải là một kiểu tấn công của những kẻ đột nhập, tuy nhiên lỗi của người quản trị hệ thống thường tạo ra những lỗ hổng cho phép kẻ tấn công sử dụng để truy nhập vào mạng nội bộ.
Tấn công vào yếu tố con người Kẻ tấn công có thể liên lạc với một người quản trị hệ thống, giả làm một người sử dụng để yêu cầu thay đổi mật khẩu, thay đổi quyền truy nhập của mình đối với hệ thống, hoặc thậm chí thay đổi một số cấu hình của hệ thống để thực hiện các phương pháp tấn công khác. Với kiểu tấn công này không một thiết bị nào có thể ngăn chặn một cách hữu hiệu, và chỉ có một cách giáo dục người sử dụng mạng nội bộ về những yêu cầu bảo mật để đề cao cảnh giác với những hiện tượng đáng nghi. Các mức bảo mật an toàn mạng. An toàn hay bảo mật không phải là một sản phẩm, nó cũng không phải là một phần mềm.
Sự an toàn có thể được khởi động và như một dịch vụ. Bảo mật là cách an toàn. Tài liệu bảo mật là tư liệu mà những thành viên của tổ chức muốn bảo vệ. Trách nhiệm của việc bảo mật là người quản trị mạng và các cá nhân sử dụng mạng.
Sự an toàn mạng có vai trò quan trọng tối cao. Cơ chế bảo mật cần phải bao gồm cấu hình mạng của Server, chu vi ứng dụng của tổ chức mạng và thậm chí của những Client truy nhập mạng từ xa. Các mức an toàn mạng cần phải xem xét: Khóa luận tốt nghiệp 9 SV: Tạ Thu Trang Luan van GVHD:ThS Lê Thị Thu An toàn vật lý. An toàn hệ thống.
An toàn mạng. An toàn các ứng dụng. Sự truy nhập từ xa và việc chấp nhận. Các lỗ hổng bảo mật trên một hệ thống là các điểm yếu có thể tạo ra sự ngưng trệ của dịch vụ, thêm quyền đối với người sử dụng hoặc cho phép các truy nhập không hợp pháp vào hệ thống.
Các lỗ hổng cũng có thể nằm ngay ở các dịch vụ cung cấp như sendmail, web, ftp. Ngoài ra các lỗ hổng còn tồn tại ngay chính tại hệ điều hành như trong Windows NT, XP, UNIX hoặc trong các ứng dụng mà người sử dụng thường xuyên sử dụng như Word processing, các hệ databases. Nguyên tắc bảo vệ hệ thống mạng. An toàn mạng phải được thiết lập dựa trên các nguyên tắc sau: Bảo vệ có chiều sâu (defense in depth): Hệ thống phải được bảo vệ theo chiều sâu, phân thành nhiều tầng và tách thành nhiều lớp khác nhau.
Mỗi tầng và lớp đó sẽ được thực hiện các chính sách bảo mật hay ngăn chặn khác nhau. Mặt khác cũng là để phòng ngừa khi một tầng hay một lớp nào đó bị xâm nhập thì xâm nhập trái phép đó chỉ bó hẹp trong tầng hoặc lớp đó thôi và không thể ảnh hưởng sang các tầng hay lớp khác. Sử dụng nhiều công nghệ khác nhau: Không nên tin cậy vào chỉ một công nghệ hay sản phẩm công nghệ bảo đảm an ninh cho mạng của một hãng nào đó. Bởi nếu như sản phẩm của hãng đó bị hacker tìm ra lỗ hổng thì dễ dàng các sản phẩm tương tự của hãng đó trong mạng cũng sẽ bị xuyên qua và việc phân tầng, phân lớp trong chính sách phòng vệ là vô nghĩa.
Vì vậy khi tiến hành phân tầng, tách lớp, nên sử dụng nhiều sản phẩm công nghệ của nhiều hãng khác nhau để hạn chế nhược điểm trên. Đồng thời sử dụng nhiều cộng nghệ và giải pháp bảo mật kết hợp để tăng cường sức mạnh hệ thống phòng vệ như phối hợp Firewall làm công cụ ngăn chặn trực tiếp, IDS làm công cụ "đánh hơi", phản ứng phòng vệ chủ động, Anti-virus để lọc virus.v Khóa luận tốt nghiệp 10 SV: Tạ Thu Trang Luan van GVHD:ThS Lê Thị Thu Các tiêu chuẩn đáp ứng: Các sản phẩm bảo mật phải đáp ứng một số chứng nhận tiêu chuẩn như Common Criteria, ISO/IEC 15408:2005 và ISO/IEC 18405:2005 EAL4, ICSA Firewall và VPN, FIPS-140. Hoạch định hệ thống bảo vệ mạng và các phương thức. Hoạch định hệ thống bảo vệ mạng.
Mạng máy tính cần được bảo vệ an toàn, tránh khỏi những hiểm hoạ do vô tình hay cố ý. Tuy nhiên một nhà quản trị mạng cần phải biết bất cứ cái gì cũng có mức độ, không nên thái quá. Mạng không nhất thiết phải được bảo vệ quá cẩn mật, đến mức người dùng luôn gặp khó khăn khi truy nhập mạng để thực hiện nhiệm vụ của mình. Không nên để họ thất vọng khi cố gắng truy cập các tập tin của chính mình.
Bốn hiểm họa chính đối với sự an toàn của mạng là: Truy nhập mạng bất hợp pháp. Sự can thiệp bằng phương tiện điện tử. Hành động vô tình hoặc có chủ ý. Các phương pháp chung đảm bảo an toàn mạng: Xây dựng chính sách bảo mật: Hệ thống mạng đòi hỏi một tập hợp nguyên tắc, điều luật và chính sách nhằm loại trừ mọi rủi ro.
Giúp hướng dẫn vượt qua các thay đổi và những tình huống không dự kiến trong quá trình phát triển mạng. Đào tạo: Người dùng mạng được đào tạo chu đáo sẽ có ít khả năng vô ý phá huỷ một tài nguyên. An toàn cho thiết bị: Tuỳ thuộc ở quy mô công ty, độ bí mật dữ liệu, các tài nguyên khả dụng. Trong môi trường mạng ngang hàng, có thể không có chính sách bảo vệ phần cứng có tổ chức nào.