phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung khóa luận gồm ba chƣơng: - Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và tổng quan - Chƣơng 2. Giá trị văn hóa từ Lễ hội đua bò Bảy Núi của ngƣời Khmer tỉnh An Giang trong phát triển du lịch - Chƣơng 3. Định hƣớng và đề xuất một số giải pháp phát triển 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN VĂN HÓA Văn hoá là khái niệm mang nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách hiệu khác nhau, liên quan đến mọi đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời.
Mặc dù ra đời sớm trong đời sống ngôn ngữ phƣơng Tây cũng nhƣ phƣơng Đông nhƣng phải đến thế kỷ thứ XVIII, từ "Văn hoá" mới đƣợc đƣa vào khoa học, sử dụng nhƣ một thuật ngữ khoa học. Từ đó cho đến nay, khái niệm văn hoá đƣợc nhiều ngƣời đề cập. Ta có thể kể đến các khái niệm văn hóa tiêu biểu sau: Khái niệm văn hoá của Trần Ngọc Thêm: “Văn hoá là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích luỹ trong quá trình hoạt động thực tiễn và trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với tự nhiên và môi trƣờng xã hội”. Năm 2002, UNESCO đã đƣa khái niệm về văn hoá: “Văn hoá nên đƣợc đề cập đến nhƣ là một tập hợp những đặc trƣng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật cả cách sống, phƣơng thức chung sống, hệ thống giá trí, truyền thống và đức tin”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến văn hoá, Ngƣời đƣa ra khái niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích cuộc sống loài ngƣời mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. * Phân loại văn hóa Văn hóa bao gồm hai khái niệm: văn hóa vật thể và và văn hóa phí vật thể.1 Văn hóa vật thể Văn hóa vật thể là cụm từ chỉ khía cạnh vật chất mang dấu ấn của một cộng đồng thể hiện tâm hồn, bản sắc, trình độ thẩm mỹ của một cộng đồng dân tộc, là những vật thể tồn tại mà con ngƣời có thể nhận biết qua các giác quan, bao gồm các di tích lịch sử, các động sản, các bất động sản. Văn hóa vật thể là các sản phẩm phục vụ cho đời sống của con ngƣời, là các sản phẩm đƣợc ngƣời dân làm ra để phục vụ cho đời sống của mình và gửi gắm vào đó những giá trị nghệ thuật, những tinh hoa của đời sống và đƣợc lƣu truyền qua các thế hệ.
7 Các di tích lịch sử văn hóa là một trong số những dạng thức chính của văn hóa vật thể. Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điểm hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử để lại. Mỗi di tích lịch sử văn hóa chứa đựng nhiều nội dung lịch sử khác nhau. Có thể chia thành các loại di tích nhƣ sau: - Loại di tích văn hóa khảo cổ (di chỉ khảo cổ): Là những địa điểm ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kì lịch sử xã hội loài ngƣời chƣa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại.
Đa số các di tích văn hóa khảo cổ nằm trong lòng đất, cũng có trƣờng hợp tồn tại trên mặt đất: các bức chạm trên vách đá. Những di tích văn hóa khảo cổ này đƣợc phân thành hai loại di chỉ cƣ trú và di chỉ mộ táng. - Loại hình di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật: Là những di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc. Những di tích này không chỉ chứa đựng những giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần.
- Di tích lịch sử cách mạng: Là những di tích ghi lại một sự kiện quan trọng của lịch sử cách mạng địa phƣơng có ảnh hƣởng tới sự phát triển của phong trào địa phƣơng, khu vực hay cả quốc gia.2 Văn hóa phi vật thể Là những nét văn hoá có sự độc lập tƣơng đối với văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể không tồn tại một cách cụ thể dƣới dạng hiện vật mà nó bao gồm các giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ ẩn chứa trong các ngôn từ hay trong các nghi thức. Đó là các phong tục tập quán gồm các lễ hội, các nghi lễ, nghi thức, các nghệ thuật ngôn từ nhƣ thơ ca, tục ngữ, ca dao; các kỹ thuật về tạo hình nhƣ điêu khắc, kiến trúc hội hoạ các nghệ thuật trình diễn nhƣ kịch múa nhạc, các tri thức dân gian nhƣ y học cổ truyền, nghệ thuật ẩm thực, những hiểu biết về mặt thiên nhiên. Các dạng thức chính của văn hoá phi vật thể: Các lễ hội: Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa vật thể của nhân dân sau thời gian lao động vất vả. Lễ hội là dịp để mọi ngƣời thể hiện lòng nhớ ơn tổ tiên, những ngƣời có công với địa phƣơng và với đất nƣớc, có liên quan đến những nghi lễ tôn giáo, tín ngƣỡng, ôn lại những giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống hoặc hƣớng về một sự kiện lịch sử - văn hóa, kinh tế trọng đại của địa phƣơng, của đất nƣớc hoặc là những hoạt động vui chơi giải trí, là dịp để tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng.
8 Thời gian của lễ hội: Các lễ hội không phải diễn ra quanh năm, mà chỉ tập trung trong thời gian ngắn. Nhìn chung chúng thƣờng diễn ra vào mùa xuân. Có lẽ ở thời điểm bắt đầu mỗi năm mới, con ngƣời có nhu cầu thông qua các lễ hội để nạp thêm năng lƣợng sống nhằm tiếp tục tồn tại và phát triển. Không chỉ riêng đối với ngƣời Việt Nam có “tháng giêng là tháng ăn chơi” mà ngƣời Nga có “Maxlenisa”, ngƣời Braxin có “Cacnavan", ngƣời Lào có “Bunpimay”, ngƣời Campuchia có “ Chon-chnam thơ may".
Có lễ hội đƣợc tiến hành trong khoảng một hai tháng, nhƣng cũng có lễ hội chỉ diễn ra trong một vài ngày. Trong thời gian lễ hội, khách hành hƣớng tới rất đông với nhiều mục đích khác nhau, trong đó có mục đích du lịch. Quy mô của lễ hội: Các lễ hội có quy mô lớn, nhỏ khác nhau. Có lễ hội diễn ra trên địa bàn rộng thậm chí có quy mô quốc tế.
Ngƣợc lại, có lễ hội chỉ bó gọn trong một địa phƣơng nhỏ hẹp. Điều này rõ ràng ảnh hƣởng đến hoạt động du lịch và nhất là khả năng thu hút du khách. Địa điểm diễn ra lễ hội: Các lễ hội thƣờng đƣợc tổ chức tại những di tích lịch sử - văn hóa. Điều đó cho phép khai thác tốt hơn cả di tích lẫn lễ hội vào mục đích du lịch.
Di tích và lễ hội là hai tài nguyên du lịch nhân văn luôn sánh đôi và đan xen lẫn nhau. Lễ hội gắn với di tích và không tách rời di tích. Có thể nói di tích là tinh hoa truyền thống đƣợc kết tinh lại ở dƣới dạng cứng, còn lễ hội là cái hồn truyền tải tinh hoa ấy đến với đời thƣờng. Văn hóa nghệ thuật: Những giá trị văn hóa nghệ thuật là những món ăn tinh thần của nhân dân, thể hiện giá trị thẩm mỹ, truyền thống và bản sắc văn hóa, tâm tƣ, tình cảm, ƣớc mong của con ngƣời.
Trong quá trình lịch sử phát triển ở mỗi quốc gia, các nghệ nhân dân gian cùng với nhân dân đã sáng tạo, nuôi dƣỡng, bảo tồn đƣợc nhiều làn điệu dân ca, điệu múa, bản nhạc, các loại nhạc cụ, các loại hình biểu diễn nghệ thuật nói chung. Thơ ca và văn học: Thơ ca và văn học là nghệ thuật sử dụng ngôn từ để phản ánh cái đẹp, tình yêu của con ngƣời với thiên nhiên, của con ngƣời với nhau, với quê hƣơng đất nƣớc và đời sống xã hội - sản xuất của con ngƣời. Lịch sử phát triển văn học của một quốc gia gắn liền với lịch sử hình thành dựng nƣớc, giữ nƣớc và xây dựng đất nƣớc. Những quốc gia có điều kiện tự nhiên phong phú đa dạng, có lịch sử phát triển lâu đời và từng có những nền văn minh, văn hóa lớn cũng là những quốc gia có nhiều tác phẩm thơ ca, văn học nổi tiếng.
Văn hoá ẩm thực: 9 Mỗi một vùng đất, một quốc gia có điều kiện tự nhiên, đặc điểm lịch sử phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá riêng nên cũng có nhiều món ăn, đồ uống đặc sản riêng. Nghệ thuật ẩm thực là giá trị văn hoá của mỗi quốc gia đƣợc sáng tạo, bảo tồn, bồi đắp qua nhiều thời đại, là dấu ấn của mỗi vùng đất với du khách. Văn hoá ứng xử và những phong tục tập quán tốt đẹp: - Văn hoá ứng xử: Đó chính là lối ứng xử thân thiện, văn minh lịch sự của con ngƣời với nhau, của con ngƣời với thiên nhiên tạo lên môi trƣờng xã hội, môi trƣờng tự nhiên tốt đẹp. - Phong tục tập quán: Đó là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, đƣợc đa số mọi ngƣời thừa nhận (phong tục ăn ở, mặc, cƣới hỏi, ma chay).2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN DU LỊCH 1.1 Khái niệm về du lịch Du lịch xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử loài ngƣời.
Mỗi thời đại, quan niệm về du lịch khác nhau, buổi ban đầu thƣờng đi kèm với hoạt động truyền giáo, buôn bán hoặc thám hiểu các vùng đất mới. Việc cung ứng các dịch vụ cho du khách để thu lợi nhuận với mục tiêu ƣu tiên hàng đầu là thƣơng mại hoá các sản phẩm du lịch. Từ đó xuất hiện hình thức du lịch đầu tiên và tồn tại cho đến ngày nay. Thuật ngữ du lịch ngày nay đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới.
Tuy nhiên có rất nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của nó. Năm 1811, định nghĩa du lịch xuất hiện lần đầu tiên ở Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lí thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí". Năm 1925, Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch đƣợc thành lập tại Hà Lan, đánh dấu bƣớc ngoặc trong việc thay đổi, phát triển các khái niệm về du lịch.